phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương, 8 tiết. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT HUY DÂN CHỦ Ở CẤP XÃ TRONG XÂY DỰNG NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 1. KHÁI NIỆM DÂN CHỦ Ở CẤP XÃ VÀ NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 1. Dân chủ, dân chủ ở cấp xã 1.
Khái niệm dân chủ Dân chủ (democracy) là thuật ngữ có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp; trong đó, demos có nghĩa là dân, kratos có nghĩa là quyền uy, sự cai trị. Như vậy, theo nghĩa gốc của thuật ngữ, dân chủ có nghĩa là quyền uy của dân; là trạng thái tổ chức xã hội, trong đó, quyền lực thuộc về dân. Trong tiếng Việt, thuật ngữ dân chủ cũng được cấu thành từ hai yếu tố dân và chủ; có nghĩa dân là chủ, dân làm chủ hay quyền làm chủ của dân. Theo ý nghĩa ban đầu, khái niệm dân chủ trước hết và chủ yếu được xem xét về mặt chính trị và pháp luật; dần dần, khái niệm này mang ý nghĩa rộng hơn, vì dân chủ không chỉ giới hạn trong lĩnh vực chính trị hay pháp luật, mà nó còn thể hiện ở các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội (gia đình dân chủ, lối sống dân chủ.
Như vậy, dân chủ là một khái niệm rất rộng, trong đó “toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân” là nội dung cốt lõi của khái niệm này. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, dân chủ hiểu một cách chung nhất là quyền lực chính trị thuộc về nhân dân. Ở nước ta, chính quyền là của nhân dân, do nhân dân làm chủ và vì nhân dân phục vụ; do đó, “nhân dân là ông chủ nắm chính quyền. Nhân dân bầu ra đại biểu thay mặt mình thi hành chính quyền ấy.
Thế là dân chủ” [43, tr. Hai nội dung có liên quan chặt chẽ với nhau của dân chủ là: dân là ai và làm chủ như thế nào, đến mức độ nào. Toàn bộ tiến trình phát triển của dân chủ trong lịch sử chính là sự trả lời cho hai câu hỏi đó. Dân chủ với tính cách là một hình thức cai trị và quản lý xã hội đã xuất hiện trong lịch sử xã 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hội loài người từ thời kỳ Cổ đại, thể hiện rõ nét nhất ở các đô thị Hy Lạp.
Khi đó, do số dân không nhiều, ở các đô thị Hy Lạp cổ đại đã hình thành các Đại hội nhân dân với sự tham gia của tất cả các công dân, đối lập với hình thức quyền lực tập trung vào tay giới quý tộc. Tuy nhiên, không phải tất cả mọi người dân trong xã hội đều được coi là công dân. Chẳng hạn, nô lệ, người nước ngoài nhập cư không phải là công dân và không được tham dự các Đại hội nhân dân. Vào thời kỳ Trung cổ, ở một số nước Tây Âu, như Italia, cũng đã xuất hiện hình thức “dân chủ đô thị”, nhưng “dân” ở đây cũng mới chỉ bao gồm những thị dân giàu có nhất.
Các trào lưu nhân văn và khai sáng từ thời Phục hưng cho đến thế kỷ XVIII mới dần dần chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cần thiết cho sự ra đời các chế độ dân chủ ở những quốc gia Tây Âu, nhất là sau cuộc Đại cách mạng Pháp năm 1789. Phải đến thời kỳ này, khái niệm “dân” mới được mở rộng ra nhiều, bao gồm cả giới tư sản, thợ thủ công, nông dân. Từ đó trở đi, dân chủ mới trở thành một phương thức tổ chức xã hội về mặt chính trị, một chính thể hoàn chỉnh, trong đó, mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân. “Lịch sử nhân loại đã chứng minh một thực tiễn mang tính chân lý: dân chủ là khát vọng lớn lao, là đòi hỏi bức xúc của con người, là một nhu cầu đặc biệt quan trọng mà con người mong muốn vươn tới; đồng thời, dân chủ cũng là một động lực quan trọng thúc đẩy xã hội phát triển.
Sự phát triển của dân chủ đánh dấu những nấc thang tiến bộ của xã hội loài người” [xem: 12]. Dân chủ là một quá trình vận động không ngừng với những thay đổi quan trọng về nội dung; bắt đầu từ lĩnh vực chính trị, dân chủ ngày càng bao trùm lên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa và xã hội. Về thể chế, dân chủ có thể mang nhiều hình thức: chính thể quân chủ lập hiến và chính thể cộng hòa; trong chính thể cộng hòa có cộng hòa tổng thống và cộng hòa đại nghị. Giữa ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp cũng có những sự phân công và kết hợp khác nhau.
Về tính chất, dân chủ có thể là của đa số, khi các cơ quan quyền lực nhà nước phản ánh được ý chí của đa số nhân dân; dân chủ có thể là của thiểu số, khi một số thế lực thống trị dựa vào những sức mạnh tài chính 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hoặc chính trị để lũng đoạn các cơ quan quyền lực đại diện của nhân dân [78, tr. Dựa vào bản chất của chế độ chính trị - xã hội đương thời, dân chủ được phân chia thành hai loại: dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa. Dân chủ tư sản là kết quả việc nhà nước tư sản sử dụng phương pháp tự do chủ nghĩa để thực hiện chuyên chính tư sản. Đó là phương pháp “dùng những biện pháp theo hướng mở rộng các quyền chính trị, theo hướng thi hành những cuộc cải cách, những nhượng bộ.
Chế độ dân chủ tư sản được coi là chế độ chính trị tiến bộ nhất của nhà nước tư sản. Nó có các đặc trưng cơ bản sau đây: khả năng của nhân dân sử dụng các quyền tự do dân chủ; sự tồn tại công khai của các đảng cầm quyền và các đảng đối lập cũng như các tổ chức xã hội, tổ chức của quần chúng; sự tồn tại của hệ thống các cơ quan đại diện được bầu theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu; sự thừa nhận về hình thức quyền bình đẳng của công dân trước pháp luật; việc thực hiện nguyên tắc pháp chế tư sản [73, tr. Dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ gắn với bản chất của chế độ Nhà nước xã hội chủ nghĩa. “Dân chủ xã hội chủ nghĩa được coi là hình thức chính quyền mà đặc trưng là việc tuyên bố chính thức nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số và thừa nhận quyền tự do bình đẳng của công dân.
Trong tương quan với quyền lực nhân dân, dân chủ được coi là công cụ, là hình thức chủ yếu thực hiện quyền lực nhân dân” [73, tr. Dưới nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhân dân là chủ thể quyền lực, là người thực hiện quyền lực; đa số quần chúng nhân dân có quyền và có các điều kiện cần thiết để tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội. Trong thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhà nước phải đảm bảo cho nhân dân tham gia vào việc lập ra bộ máy nhà nước, vào việc quản lý các công việc của nhà nước, quyết định các công việc trọng đại của đất nước; đồng thời, có cơ chế đảm bảo cho nhân dân thực hiện việc kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, nhân viên nhà nước, các tổ chức và cá nhân khác được trao những quyền hạn nhất định để quản lý một số công việc của nhà nước. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nhận thức được vai trò, tầm quan trọng và ý nghĩa quyết định của dân chủ, nên ngay từ khi ra đời, Đảng và Nhà nước ta đã đặc biệt quan tâm đến vấn đề dân chủ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, coi đó là một vấn đề hệ trọng, có ý nghĩa chiến lược sâu sắc đối với sự phát triển của đất nước.
Ngay sau khi giành được nền độc lập cho nước nhà, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định rõ quan điểm về dân chủ trong việc xây dựng Nhà nước Việt Nam như sau: “NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra.
Đoàn thể từ trung ương đến xã do dân tổ chức nên” [42, tr. Từ bản Hiến pháp đầu tiên (năm 1946) cho đến các bản Hiến pháp sau này Nhà nước ta đều khẳng định nguyên tắc “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”. Ngay tại Điều 1 Hiến pháp năm 1946, chúng ta đã trịnh trọng tuyên bố: “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo” [28, tr. Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” [28, tr.
Các bản Hiến pháp của Nhà nước ta đều khẳng định nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; đồng thời, còn thiết lập cơ chế bảo đảm sao cho việc thực thi quyền lực nhà nước phục vụ cho lợi ích của nhân dân và luôn nằm dưới sự kiểm soát của nhân dân. Nhà nước của chúng ta do nhân dân lập ra và được nhân dân nuôi dưỡng. Trong các Nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam, vấn đề tôn trọng quyền lực nhân dân, mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng và quản lý nhà nước luôn là một trong những nội dung quan trọng 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Để đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của việc xây dựng nhà nước trong thời kỳ mới thì một trong những yêu cầu cơ bản được Đảng ta xác định là phải “tiếp tục phát huy tốt hơn nữa quyền làm chủ của nhân dân qua các hình thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp để nhân dân tham gia xây dựng và bảo vệ Nhà nước, nhất là việc giám sát, kiểm tra của nhân dân đối với hoạt động của cán bộ, công chức nhà nước” [13, tr.
Dưới chế độ ta, nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước thông qua hai hình thức cơ bản là dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện. Dân chủ trực tiếp là hình thức mọi công dân trực tiếp thể hiện ý chí và nguyện vọng của mình một cách bình đẳng, không phân biệt giới tính, lứa tuổi, thành phần xuất thân, địa vị xã hội.