Chương 1: Đôi nét về Phật giáo Phật giáo Mật tông Chương này là phần khái thuyết cung cấp kiến thức tổng quan về sự hình thành Phật giáo tại Ấn Độ, từ đó giới thiệu về lịch sử phát triển của Mật tông cũng như Giáo nghĩa Mật tông. Chương 2: Phật giáo và Phật giáo Mật tông tại Hàn Quốc thời kỳ trung đại Dưới góc độ lịch sử, tập trung vào thời kỳ trung đại, chương này cung cấp thông tin về Phật giáo và Phật giáo Hàn Quốc theo từng phân kỳ của giai đoạn trung đại: từ thời Tam quốc đến hết thời Silla thống nhất (57TCN – 668SCN), thời kỳ Goryeo (918-1392) và thời kỳ Choson (1392-1910) Chương 3: Đặc trưng Phật giáo Mật tông tại Hàn Quốc thời kỳ trung đại 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trên cơ sở thông tin tại chương 2, chương 3 đưa ra hai đặc trưng nổi bật của Phật giáo Mật tông Hàn Quốc thời kỳ trung đại là sự dung hợp tự nhiên của Mật tông Hàn Quốc với các tông phái Phật giáo Hàn Quốc khác và đặc trưng Hàn Quốc hóa Mật tông 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1 ĐÔI NÉT VỀ PHẬT GIÁO VÀ PHẬT GIÁO MẬT TÔNG 1. Sự hình thành Phật giáo tại Ấn Độ Có thể khẳng định, việc nghiên cứu sự hình thành, phát triển cũng như giáo lý, giáo đoàn Phật giáo nhận được sự quan tâm của nhiều học giả, nhà nghiên cứu và ngay cả các tu sĩ, cư sĩ Phật giáo trên toàn thế giới. Chính vì vậy, trong luận văn này, người viết chỉ khái quát một vài yếu tố kinh tế-xã hội và tôn giáo dẫn đến sự hình thành và phát triển của Phật giáo cũng như sự lan tỏa của Phật giáo trong lãnh thổ cũng như ra ngoài Ấn Độ để từ đó có sự liên kết chặt chẽ hơn với Phật giáo Hàn Quốc nói chung và Mật tông Phật giáo tại Hàn Quốc nói riêng.
Nền văn minh sớm nhất của dân tộc Ấn Độ phải kể đến là nền văn minh sông Ấn (Indus river). Nhiều ý kiến cho rằng giống người Dravidian là dân bản địa xưa nhất và nổi bật nhất trong số các dân tộc ở Ấn Độ, là chủ nhân của nền văn hóa Indus. Họ thờ nữ thần sáng tạo đất đai và dân tộc. Nền văn minh giai đọan này không thua gì nền văn minh Lưỡng Hà vùng Trung Á và văn minh nhà Thương của Trung Hoa thể hiện qua di tích khảo cổ những thành thị thủ công nghiệp và thương nghiệp lớn, xuất hiện từ khoảng giữa thiên niên kỷ III đến đầu thiên niên niên kỷ II trước công nguyên.
Dấu mốc thay đổi trong lịch sử Ấn Độ bắt đầu với sự hiện diện của người Aryan. 11 11 Hiện vẫn còn nhiều tranh luận về giả thiết về sự tràn vào của người Aryan ở Ấn Độ như giả thiết di cư, giả thiết xâm lược hay giử thiết cho rằng người Aryan là cư dân bản địa. Vào khoảng thời gian 100 đến 1.600 TCN, một chi của dòng họ Aryan rộng lớn, thường được gọi là người Indo-Aryan, di cư đến Ấn Độ. Họ đem theo cùng với họ là tiếng Phạn và một tôn giáo dựa trên nghi lễ hiến tế các vị thần tượng trưng cho các thế lực của thiên 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Người Ấn-Aryan cư trú ở vùng Panjab phồn thịnh, rất phát đạt về mặt tư tưởng, vì thế, dân tộc này đã chế tác được bộ kinh điển Rig Veda đầu tiên.
Đây là nguồn tư tưởng văn hóa ở thời kỳ thứ nhất của Bà La Môn giáo, vào khoảng 1500 -1000 TCN. Đây là thời kỳ nền kinh tế, xã hội nô lệ Ấn độ đã phát triển cao, nhưng vẫn bị bóp nghẹt bởi tính chất kiên cố của tổ chức công xã nông thôn, cùng sự thống trị của nhà nước quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền và sự khắc nghiệt của chế độ đẳng cấp. Trong lĩnh vực tinh thần, thế giới quan duy tâm, tôn giáo được coi là hệ tư tưởng chính thống, thống trị trong đời sống tinh thần xã hội. Các trào lưu triết học thời kỳ này với khuynh hướng đa dạng, đại diện cho các tầng lớp xã hội khác nhau, vừa mang tính chất triết học, vừa mang đậm màu sắc tôn giáo.
Trong giai đoạn này, người Ấn Độ rất tôn trọng nghi thức tế tự, kính thần. Lúc đầu họ đặt ra người gia trưởng, hoặc tộc trưởng để đảm nhận việc tế lễ, gọi là chức Ty tế. Dần dần chức Ty tế này trở thành công việc chuyên môn nên được thay thế bằng các Tăng lữ. Mặc khác, vì theo đà tiến triển của xã hội, phát sinh ra bốn chức nghiệp: Sĩ, nông, công, thương.
Dần dần, các nghề nghiệp này được giai cấp hóa. Giai cấp Tăng lữ trông coi việc tế tự chiếm địa vị tối cao; thứ đến là giai cấp vua chúa, nắm quyền thống trị; thứ dân thuộc hạng nông, công,thương ở địa vị thứ ba; sau cùng là tiện dân ở địa vị thấp nhất. Lối phân chia giai cấp này mỗi ngày thêm chặt chẽ. Các Tăng lữ nắm thực quyền trong xã hội, đã đem tổ chức xã hội thành bốn giai cấp rõ rệt: Tăng lữ thuộc giai cấp Bràhman, vua chúa thuộc giai cấp Ksatriya, bình dân thuộc giai cấp Vaisya, tiện dân thuộc giai cấp Sùdra.
Hai giai cấp Bràhman và Ksatriya là giai cấp thống trị, hai giai cấp bình dân và tiện dân là hai giai cấp nhiên như Indra, thần mưa và sấm, thần Agni (lửa) và Varuma, chúa tể của các sông biển và mùa màng. Những bài ngợi ca vị thần ấy được tập hợp lại thành bốn tập Kinh Vệ Đà. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bị trị. Bốn giai cấp này theo chế độ thế tập, cha truyền con nối, nên giai cấp nô lệ cứ phải đời đời làm nô lệ tạo thành một tổ chức xã hội bất công.
Trong thời kỳ này, cuộc đấu tranh giữa các trường phái triết học, nhất là cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật, vô thần chống chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo lên đến đỉnh cao, đặc biệt là việc phủ nhận uy thế của kinh Veda. Từ đó đã hình thành cách phân chia có tính chất truyền thống tất cả các trường phái triết học thành hai phái chính là phái triết học chính thống (Astika) thừa nhận uy thế tối cao của kinh Veda của đạo Bàlamôn12 và phái triết học bác bỏ uy thế tối cao của kinh Veda đạo Bàlamôn (gọi là phái phi chính thống). 13 Trong các trường phái phi chính thống, ngoại trừ Phật giáo là một tôn giáo mang tính giác ngộ và giải thoát hoàn toàn, còn trường phái Lokayata là trường phái triệt để duy vật, vô thần, các trường phái khác đều mang tính chất nhị nguyên luận hay thiếu triệt để. Cũng chính vì điều này mà Phật giáo sau khi hình thành đã sớm được truyền bá đến nhiều vùng trong Ấn Độ và trên thế giới.
Xuyên suốt dòng lịch sử của đất nước Ấn Độ, người ta nhận thấy Ấn Độ là nơi phát xuất tổ chức nhiều mô hình tôn giáo của thế giới. Lịch sử truyền bá của Phật giáo và tư tưởng Phật giáo rộng và sâu, nếu người muốn nghiên cứu về Phật giáo mà không đặt một đường lối đã định để noi theo thì khó thể đạt được phần kết quả tốt đẹp. Vậy bước đầu tiên của đường lối đó chính là việc nghiên cứu về sự hình thành của Phật giáo. Phật giáo ở mỗi vùng, mỗi nước đều có những đặc chất khác nhau.
Tuy vậy, Phật giáo ở 12 bao gồm 6 trường phái chính là: 1)Samkhya, 2) Mimamsa,3) Vaisesika,4) Nyaya, 5) Yoga và 6)Védanta. 13 gồm 3 trường phái chính là: 1) Các trường phái triết học vô thần, duy vật trong phong trào mới đòi tự do tư tưởng ở Đông ấn và trường phái triết học duy vật tiêu biểu Lokayata hay chủ nghĩa duy vật khoái lạc như Charvaka; 2) Phật giáo và 3) Đạo Jaina. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com các nước đều bắt nguồn từ Ấn Độ, nên việc khảo sát về sự truyền bá Phật giáo Ấn Độ chiếm một địa vị rất quan trọng. Sau khi Đức Phật nhập niết bàn khoảng 100 năm Phật giáo đã bắt đầu có sự phân phái rõ rệt.
Cuộc kiết tập Kinh điển lần thứ hai không đơn thuần chỉ nhằm xác quyết mười điều (không có trong giới Luật do đức Phật chế định) là phi pháp hay hợp pháp mà còn củng cố Kinh, Luật Phật dạy, không để cho các học thuyết ngoại đạo trà trộn. Cuộc kiết tập này cũng đánh dấu sự ra đời của 2 bộ phái lớn, đó là Theravāda (Thượng Toạ Bộ) và Mahāsanghika (Đại Chúng Bộ). Theo Dị Bộ Tông Luận 14, sau khi đức Phật nhập diệt do không thống nhất ý kiến nên tăng đoàn chia làm 2 bộ là Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ. Về sau, Đại chúng bộ chia thành 9 bộ và Thượng tọa bộ chia thành 11 bộ.
Giai đoạn này, việc truyền bá Phật giáo đã diễn ra khá mạnh đã dẫn đến các bộ phái co cụm lại và hưng thịnh ở những vùng khác nhau, không còn tinh thần hoà hợp thống nhất như thời đức Phật còn tại thế. Phái Theravada thì giáo hoá tập trung ở lưu vực sông Hằng, Maghadha (nay thuộc bang Bihar) và một số vùng lân cận. Phái Mahàsanghika (Đại Chúng Bộ), bộ phái tổ tiên của Đại thừa thì phát triển mạnh ở Bắc Ấn thành những trung tâm học thuật, trong đó có các vùng thuộc Afghanistan và Parkistan ngày nay. 227] Đặc biệt dưới sự bảo trợ của vua Aśoka, nhiều tu viện Phật giáo được xây dựng cùng số lượng Tăng sinh trở nên đông đảo.
Tuy vậy, có không ít kẻ cơ hội trà trộn vào đoàn thể Tăng đoàn gây nên những mối bất hòa do đó Phật giáo trở nên hỗn loạn, khó phân biệt chính tà. Đây chính là lúc mà các bộ phái phân hóa đến cực điểm. Trước thực trạng như vậy, vua Aśoka đã phát tâm 14 Dị tông luận (Dị bộ tông luân luận) nói về học thuyết của các bộ phái Tiểu Thừa khái quát tường thuật lại toàn bộ quá trình diễn biến của thời kỳ Phật giáo Bộ phái (370 TCN – 150 SCN), tóm tắt những quan điểm chính của các bộ phái, phê phán của Phật giáo Đại thừa. Tác phẩm này được xem như là chiếc chìa khóa để tìm hiểu các nguồn tư liệu Abhidhamma cũng như các kinh điển Phật giáo Đại thừa.
17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com khởi xướng và là người bảo trợ cho Hội nghị kết tập Kinh điển lần thứ ba. Sau lần kết tập kinh điển này, vua Aśoka cử những phái đoàn truyền giáo đến các nước ở Châu Á, Châu Phi, Châu Âu… Từ thế kỷ thứ VII đến thế kỷ thứ XIII Phật giáo Ấn Độ dần dần suy vi.