Chương 1. Những vấn đề lý luận cơ bản về chủ thể quan hệ pháp luật và pháp nhân Chương 2. Thực trạng hệ thống pháp luật và thi hành pháp luật về pháp nhân ở Việt Nam Chương 3. Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật và thi hành pháp luật về pháp nhân ở Việt Nam 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHỦ THỂ QUAN HỆ PHÁP LUẬT VÀ PHÁP NHÂN.1 Khái niệm và nội dung quan hệ pháp luật 1.1 Khái niệm Trong đời sống xã hội, con người tham gia vào những quan hệ rất đa dạng và phong phú: như quan hệ hôn nhân gia đình, quan hệ lao động, quan hệ tài sản, quan hệ chính trị….các quan hệ ấy phát sinh trong hoạt động lao động, sản xuất, công tác, học tập, sinh hoạt đời thường.
Người ta gọi đó là các quan hệ xã hội. Quan hệ xã hội được điều chỉnh bởi các quy phạm xã hội (quy phạm pháp luật, quy phạm đạo đức, quy phạm tập quán, quy tắc của các tổ chức xã hội). Trong xã hội có nhà nước, các quan hệ xã hội quan trọng nhất được quy phạm pháp luật điều chỉnh [48, tr387]. Mọi xã hội chỉ có thể tồn tại và phát triển được trên cơ sở của sự trật tự và ổn định, được hình thành nên nhờ một hệ thống rất phong phú các phương tiện điều chỉnh quan hệ xã hội.
Trong hệ thống này trước hết phải nói đến các loại phương tiện điều chỉnh mang tính quy phạm, đó là các loại quy phạm điều chỉnh quan hệ xã hội. Hành vi và các loại quan hệ xã hội của con người tự thân phải cần đến sự điều chỉnh bởi những phương tiện (công cụ) nhất định. Chẳng hạn trong quản lý xã hội, pháp luật là công cụ chủ yếu, giữ vị trí, vai trò thiết yếu. Ngoài pháp luật ra còn có nhiều công cụ, phương tiện khác.
Dưới sự điều chỉnh của các quy phạm pháp luật, các chủ thể tham gia quan hệ xã hội sẽ phát sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý, trách nhiệm ràng buộc các bên trong một quan hệ pháp luật. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Như vậy, bằng các quy phạm pháp luật làm cơ sở phát sinh các quan hệ pháp luật trong hoạt động của các chủ thể tham gia quan hệ xã hội. Quan hệ pháp luật là hình thức pháp lý của các quan hệ xã hội xuất hiện dưới tác động điều chỉnh của các quy phạm pháp luật và các sự kiện pháp lý tương ứng, trong đó, các bên tham gia có các quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định, được nhà nước đảm bảo và bảo vệ [48, tr398-399]. Sự khác nhau giữa quan hệ pháp luật và quan hệ xã hội là ở chỗ “Quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội, là một trong những hình thức đa dạng của quan hệ xã hội nhưng khác với các quan hệ xã hội khác là quan hệ xã hội này đã được mang trên mình hình thức pháp lý - quan hệ pháp luật” [48, tr398].
Trong xã hội, mỗi chủ thể (cá nhân hoặc các thực thể pháp lý khác) tồn tại dựa trên các hành vi tương tác với nhau. Mỗi hành vi tương tác trong xã hội tạo cho mỗi chủ thể một tư cách khác nhau. Do vậy, mỗi chủ thể có thể tham gia nhiều quan hệ pháp luật khác nhau, tạo ra những quan hệ chằng chịt nhau. Nếu các quan hệ trong xã hội muốn ổn định, bình đẳng và phát triển giữa các chủ thể thì phải có sự điều chỉnh của các quy phạm pháp luật và đó là phương tiện để quản lý xã hội của nhà nước.
Trong đó, có những quan hệ xã hội không được pháp luật chi phối. Những quan hệ loại này được xác lập và diễn tiến theo những lề thói được xã hội chấp nhận. Ví như, trong lĩnh vực hôn nhân gia đình, có giao dịch hứa hôn; trong cuộc sống hàng ngày người ta có thể đi nhờ xe, đi ăn giỗ, mời nhau một ly cà phê mà chẳng bận tâm đến luật pháp. Con người tham gia vào các quan hệ ấy cũng được coi là các chủ thể, song các ứng xử của chủ thể không cần pháp luật điều chỉnh.
Pháp luật chỉ điều chỉnh một quan hệ khi được xác lập giữa các chủ thể là 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quan hệ có tính pháp lý, nghĩa là được pháp luật đề cập, một cách trực tiếp hoặc gián tiếp [50, tr. “Quan hệ pháp luật là hình thức pháp lý cần thiết cho tất cả những quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh. Quan hệ pháp luật thể hiện mối liên hệ đặc biệt giữa các chủ thể, mối liên hệ thông qua các quyền và nghĩa vụ pháp lý” [49, tr398]. Trong quan hệ pháp luật dân sự, giao dịch dân sự là hành vi pháp lý có ý thức thể hiện ý chí của các chủ thể quan hệ pháp luật dân sự nhằm xác lập, thay đổi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự.
Giao dịch dân sự là một trong những căn cứ quan trọng và phổ biến nhất làm phát sinh quan hệ pháp luật dân sự. Trong cơ chế điều chỉnh pháp luật, quan hệ pháp luật là một thành tố quan trọng thể hiện đời sống pháp lý hiện thực trên tất cả các lĩnh vực của đất nước qua mỗi chặng đường xây dựng và phát triển và là cơ sở thực tế để đánh giá hiệu quả pháp luật, giá trị xã hội của pháp luật. Trong quá trình áp dụng pháp luật để giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra, sẽ trả lời các câu hỏi tại sao pháp luật ít đi vào cuộc sống, hiệu quả pháp luật không cao, trật tự pháp luật còn hạn chế và lỏng lẻo.2 Nội dung quan hệ pháp luật Nội dung của quan hệ pháp luật bao gồm quyền và nghĩa vụ của chủ thể tham gia quan hệ pháp luật. Các quyền và nghĩa vụ pháp lý đó được Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật quy định.1 Quyền pháp lý Quyền pháp lý chủ thể là khả năng xử sự của các chủ thể tham gia quan hệ được quy phạm pháp luật quy định và được bảo vệ bởi sự cưỡng chế của quyền lực nhà nước.
Đặc điểm quyền chủ thể quan hệ pháp luật: Thứ nhất, khả năng được hoạt động trong khuôn khổ theo quy phạm pháp luật xác định trước. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thứ hai, khả năng yêu cầu chủ thể cùng tham gia quan hệ pháp luật thực hiện nghĩa vụ của họ bằng việc thực hiện có thể bằng hành động hoặc không hành động. Thứ ba, khả năng yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết đối với bên kia để họ thực hiện nghĩa vụ trong trường hợp quyền chủ thể của mình bị bên kia vi phạm. Quyền là khả năng của chủ thể có thể được lợi ích nhất định hay được tiến hành những hành vi nhất định, có quyền yêu cầu chủ thể khác của quan hệ pháp luật thực hiện nghĩa vụ hoặc yêu cầu các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải có những hành vi nhất định nhằm thực hiện quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay xã hội [49, tr419].2 Nghĩa vụ pháp lý Nghĩa vụ pháp lý của chủ thể trong quan hệ pháp luật là cách xử sự bắt buộc được quy phạm pháp luật xác định trước mà một bên phải tiến hành nhằm đáp ứng việc thực hiện quyền chủ thể của bên kia.
Nghĩa vụ pháp lý của chủ thể có các đặc điểm như: Thứ nhất, là sự bắt buộc phải có những xử sự nhất định do quy phạm pháp luật xác định trước. Thứ hai, các xử sự này nhằm thực hiện quyền chủ thể của bên kia. Thứ ba, trong trường hợp cần thiết, nghĩa vụ pháp lý sẽ được thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế của nhà nước. Nghĩa vụ pháp lý xuất hiện trên cơ sở quy phạm pháp luật quy định nghĩa vụ cho các chủ thể tham gia vào các quan hệ cụ thể bắt buộc phải tuân theo.
Sự xuất hiện nghĩa vụ thụ động, tức bên có nghĩa vụ phải kìm chế mình không thực hiện những hành vi bị ngăn cấm. “Quan hệ pháp luật sẽ không tồn tại nếu không có quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể tham gia” [49, tr421]. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ví dụ: Trong quan hệ hợp đồng, các chủ thể tham gia hợp đồng theo tự nguyện, bình đẳng trên cơ sở nguyên tắc tự do ý chí. Những thỏa thuận trong hợp đồng sẽ rằng buộc các quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia (nếu như thỏa thuận đó không trái luật).
Nếu các bên không thỏa thuận hoặc thỏa thuận không đầy đủ về quyền và nghĩa vụ của các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng, thì các bên có thể dẫn chiếu các quy định của pháp luật về những vấn đề cụ thể gặp phải. Như vậy, bằng ý chí của mình, các chủ thể quan hệ pháp luật đã tạo lập cho mình những quyền và nghĩa vụ pháp lý trên cơ sở thỏa thuận và các quy định của pháp luật. Quan hệ pháp luật có thể xuất hiện, thay đổi, chấm dứt theo những điều kiện nhất định, cụ thể là: quy phạm pháp luật điều chỉnh, chủ thể tham gia quan hệ và sự kiện pháp lý phát sinh. Nếu thiếu một trong ba điều kiện trên thì không phát sinh quan hệ pháp luật.
Nếu chỉ có quy phạm pháp luật thì chưa đủ, phải có chủ thể có đầy đủ năng lực chủ thể tham gia và đồng thời phải có những hoàn cảnh, điều kiện của đời sống thực tế đã được các nhà làm luật ghi nhận trong phần giả định của quy phạm pháp luật, đó là sự phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật khi xảy ra.2 Các vấn đề cơ bản về chủ thể quan hệ pháp luật 1.1 Khái niệm chủ thể quan hệ pháp luật Chủ thể quan hệ pháp luật là những cá nhân, tổ chức có khả năng trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật, có quyền và nghĩa vụ pháp lý phát sinh. Các chủ thể được quyền tự do lựa chọn theo năng lực và mục đích của mình, nhưng phải không trái với các quy phạm pháp luật điều chỉnh. Hay nói khác đi, các quyền năng của chủ thể pháp luật và khả năng xác lập, thực hiện các quyền đó chịu sự chi phối của các quy phạm pháp luật do nhà nước đặt ra nhằm đảm bảo trật tự xã hội và bình đẳng giữa các chủ thể với nhau. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Muốn trở thành chủ thể quan hệ pháp luật thì trước hết phải là chủ thể pháp luật.