CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI QUẢN LÝ CÔNG TY CỔ PHẦN 1.1 Khái niệm người quản lý công ty cổ phần 1.1 Khái niệm người quản lý công ty cổ phần tại Việt Nam Theo luật Việt Nam, cụ thể là khoản 24 Điều 4 Luật doanh nghiệp số 59/2020/QH14 do Quốc hội khóa XIV thông qua ngày 17/6/2020 và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2021 quy định như sau: “Người quản lý doanh nghiệp là người quản lý doanh nghiệp tư nhân và người quản lý công ty, bao gồm chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và cá nhân giữ chức danh quản lý khác theo quy định tại Điều lệ công ty”. Trong đó, người quản lý công ty cổ phần được liệt kê bao gồm Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và cá nhân nắm giữ chức danh quản lý khác theo điều lệ quy định. Sơ lược theo luật hiện hành: Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý công ty và có toàn quyền quyết định các vấn đề của công ty trừ các vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông1; thành viên Hội đồng quản trị do Đại hội đồng cổ đông bầu theo phương thức bầu dồn phiếu2 và Chủ tịch Hội đồng quản trị là chức danh do Hội đồng quản trị bầu ra trong số các thành viên Hội đồng quản trị3; Giám đốc/Tổng giám đốc do Hội đồng quản trị bổ nhiệm từ một thành viên trong hội đồng hoặc thuê từ bên ngoài4. Đối với các tổ chức tín dụng, người quản lý bao gồm Chủ tịch, thành viên Hội đồng quản trị; Chủ tịch, thành viên Hội đồng thành viên; Tổng giám đốc (Giám đốc) và các chức danh quản lý khác theo quy định tại Điều lệ của tổ chức tín dụng5.
Còn người điều hành gồm các chức danh Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc 1 Khoản 1 Điều 153 Luật doanh nghiệp 2020. 2 Khoản 3 Điều 148 Luật doanh nghiệp 2020. 3 Khoản 1 Điều 156 Luật doanh nghiệp 2020. 4 Khoản 1 Điều 162 Luật doanh nghiệp 2020.
5 Khoản 31 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng 2010. 7 (Phó giám đốc), Kế toán trưởng, Giám đốc chi nhánh và các chức danh tương đương theo quy định tại Điều lệ của tổ chức tín dụng6. Từ các khái niệm trên có thể thấy rằng, (i) người quản lý theo định nghĩa của Luật doanh nghiệp bao gồm cả người quản lý và người điều hành (giám đốc/tổng giám đốc) trong khi đó đối với các tổ chức tín dụng hai tư cách này được xác định riêng biệt; (ii) điều kiện duy nhất để trở thành người quản lý công ty cổ phần tại Việt Nam là cá nhân nắm giữ chức danh quản lý trong công ty theo luật định hoặc theo Điều lệ công ty, do đó (iii) pháp luật Việt Nam không xác lập tư cách người quản lý công ty cổ phần dựa trên bản chất quyền hạn, hành vi quản lý trực tiếp của các cá nhân. So với Luật doanh nghiệp 2014, ngoài các chức danh mặc định được liệt kê, những chức danh quản lý do Điều lệ công ty quy định phải tuân theo một điều kiện khác để được xem là người quản lý công ty đó là phải có “thẩm quyền nhân danh công ty ký kết giao dịch của công ty theo quy định tại Điều lệ công ty” 7.
Luật doanh nghiệp 2020 đã xem xét và loại bỏ điều kiện này vì qua thời gian áp dụng thực tiễn, điều kiện này là thừa thải trong việc xác lập tư cách người quản lý. Quy định về thẩm quyền nhân danh công ty ký kết giao dịch thực chất gần với thẩm quyền của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp (nhưng không bao gồm mọi quyền và nghĩa vụ của người đại diện)8. Đối với người quản lý công ty, hoạt động quản lý điều hành có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như đưa ra những quyết định nội bộ, phương hướng phát triển cho doanh nghiệp, chỉ đạo hoạt động kinh doanh hàng ngày,… chứ không nhất thiết thông qua thẩm quyền nhân danh công ty ký kết hợp đồng. Do đó, quy định này được xây dựng chưa phản ánh đầy đủ và chính xác thẩm quyền chức năng, thẩm quyền của người quản lý.
Luật doanh nghiệp 2020 đã có sự cải tiến khi bỏ ngõ quy định xác định tư cách người quản lý, cho phép các công ty cổ phần quy định trong điều lệ phù hợp với từng 6 Khoản 32 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng 2010. 7 Khoản 18 Điều 4 Luật doanh nghiệp 2014. 8 Khoản 1 Điều 13 Luật doanh nghiệp 2014. 8 loại hình doanh nghiệp với từng lĩnh vực hoạt động khác nhau.
Tuy đã có sự thay đổi, khái niệm và cách thức hướng dẫn xác định tư cách người quản lý công ty cổ phần vẫn chưa được hoàn thiện, khiến việc xác định này không hề dễ dàng. Để nhìn nhận và xác định được vấn đề cần giải quyết, hãy cùng xem qua quy định của một số quốc gia trên thế giới về xác định người quản lý công ty cổ phần.2 Khái niệm người quản lý công ty cổ phần tại một số quốc gia Hầu hết các quy định pháp luật nước ngoài về khái niệm người quản lý công ty được đề cập dưới đây đều sử dụng thuật ngữ “director”. Thông thường, “director” được dịch sang tiếng Việt là giám đốc (hoặc tổng giám đốc cho “general director”). Nếu chỉ hiểu và xem xét “director” dừng tại mức một chức danh quản lý chỉ người điều hành hoạt động hàng ngày của doanh nghiệp là chưa đầy đủ và chưa phù hợp với hầu hết các khái niệm trên thế giới.
Theo từ điển pháp lý Black’s law dictionary, “director” là “Người được chỉ định, bổ nhiệm vào hội đồng theo luật định, được ủy quyền quản lý, chỉ đạo công việc của tập đoàn, công ty. Tập thể những người này được gọi là hội đồng quản trị”9. Như vậy, “director” không chỉ là giám đốc mà còn bao gồm những cá nhân được chỉ định, bổ nhiệm làm nhiệm vụ quản lý, điều hành công ty10. Nói cách khác, thuật ngữ “director” cần được hiểu đầy đủ là “người quản lý/điều hành doanh nghiệp”.
Đồng thời, “director” được dùng để chỉ người quản lý trong đa số các loại hình doanh nghiệp theo hệ thống pháp luật các quốc gia dưới đây, vì thế trong khóa luận này người điều hành và người quản lý công ty cổ phần được gọi chung là người quản lý công ty.1 Khái niệm người quản lý công ty cổ phần theo pháp luật Úc Tại Điều 9 Đạo luật công ty Úc 2001 xác định rằng giám đốc của một công ty hoặc các cơ quan khác là người (i) được bổ nhiệm hợp lệ là giám đốc hoặc được bổ nhiệm vị trí tạm thời và đang thực hiện các hoạt động với tư cách giám đốc không 9 Dịch từ nguyên văn: “Directors are persons appointed or elected according to law, authorized to manage and direct the affairs of a corporation or company. The whole of the directors collectively form, the board of directors.” 10 Nguyễn Hoàng Duy (2015), Nghĩa vụ của người quản lý công ty theo pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội, tr. 9 quan trọng chức danh đó được gọi tên là gì và (iii) trong trường hợp không có người nào được bổ nhiệm hợp lệ mà các giám đốc và cơ quan đều quen với việc hành động theo chỉ đạo và mong muốn của cá nhân nào đó, người này được xác định là giám đốc công ty11. Từ quy định trên có thể thấy rằng, không giống luật Việt Nam liệt kê các chức danh, pháp luật Úc lựa chọn phương pháp xác định người quản lý công ty (giám đốc) dựa trên vai trò, công việc, các quyết định mà cá nhân đó thực hiện bao gồm: giám đốc được bổ nhiệm hợp lệ - ‘de jure director’, giám đốc thực tế - ‘de facto director’ và giám đốc giấu mặt – ‘shadow director’.
Cách quy định này hạn chế bỏ sót những cá nhân không nắm giữ chức danh hoặc nắm giữ những chức danh không được quy định trong văn bản luật, điều lệ công ty nhưng vẫn có sự ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh bằng các quyết định chỉ đạo, tư vấn. Khi pháp luật bao quát được những người quản lý như “de facto” hay “shadow” cũng thể hiện rằng pháp luật có quy định bảo vệ người quản lý bằng cách phân định trách nhiệm của từng trường hợp quản lý dù có nắm giữ chức danh hay không.2 Khái niệm người quản lý công ty cổ phần theo pháp luật Myanmar Theo văn bản Luật công ty Myanmar 2017, quốc gia này đề cập đến nhiều chức danh quản lý khác nhau như giám đốc công ty – director, hội đồng quản trị - board or board of directors, người đại diện ủy quyền – authorised representative. Tại tiểu mục (iv) Điều 1 Luật công ty Myanmar 2017 quy định về các trích dẫn và định nghĩa ghi nhận như sau: “hội đồng hoặc hội đồng quản trị của một công ty hoặc một cơ quan bao gồm các giám đốc hoạt động cùng nhau như một hội đồng (hoặc là giám 11 Dịch từ nguyên văn Article 9, Corporations Act 2001 (Ausstralia): “director of a company or other body means: (a) a person who: (i) is appointed to the position of a director; or (ii) is appointed to the position of an alternate director and is acting in that capacity; regardless of the name that is given to their position; and (b) unless the contrary intention appears, a person who is not validly appointed as a director if: (i) they act in the position of a director; or (ii) the directors of the company or body are accustomed to act in accordance with the person’s instructions or wishes.” 10 đốc duy nhất trong trường hợp công ty chỉ có một giám đốc)” 12. Trong đó, “giám đốc” của công ty hoặc cơ quan theo luật này là (i) Cá nhân được bổ nhiệm hợp lệ vị trí giám đốc hoặc vị trí giám đốc tạm thời và hành động với tư cách đó và (ii) Nếu không được bổ nhiệm là giám đốc hợp lệ nhưng cá nhân có hành động như thể được bổ nhiệm, có mong muốn hoặc đưa ra những chỉ đạo mà công ty đã quen thực hiện theo13.
Nhận thấy rằng, tương tự như pháp luật Úc, Luật công ty Myanmar 2017 đã xác định người quản lý công ty (director) dựa trên bản chất công việc, các quyết định, sự ảnh hưởng của cá nhân đến hoạt động kinh doanh của công ty. Bất kể là giám đốc được bổ nhiệm hợp lệ hay cá nhân có hành động chỉ đạo chi phối công ty hoặc đưa ra những tư vấn cho các nhà quản lý khác đều được xác định là “director”.