CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRÁI PHIẾU CHUYỂN ĐỔI 1. Khái quát chung về trái phiếu chuyển đổi 1. Khái niệm trái phiếu chuyển đổi TPCĐ không phải là loại hình chứng khoán mới nếu xét về thời điểm pháp luật Việt Nam công nhận sự tồn tại của nó trên thị trường vốn. Ngay sau khi Nghị 4 định 52/2006/NĐ-CP lần đầu tiên thừa nhận và quy định về TPCĐ, đã có nhiều TCPH lựa chọn TPCĐ như một kênh thu hút vốn như Ngân hàng TMCP Sài Gòn, Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB), Công ty Cổ phần Đầu Tư Hạ Tầng Kỹ Thuật 5 Thành phố Hồ Chí Minh.
Quy định về khái niệm, điều kiện, thủ tục phát hành TPCĐ của Nghị định 52/2006/NĐ-CP là một bước tiến lớn trong tư duy phát triển thị trường vốn bởi bên cạnh TPDN nói chung, pháp luật đã đưa TPCĐ trở thành loại chứng khoán độc lập và có những lợi thế, đặc thù riêng để TCPH đa dạng hóa cách sử dụng phương án huy động vốn. Là một loại chứng khoán nợ, TPCĐ ghi nhận cam kết thanh toán vốn và lãi của TCPH đối với chủ sở hữu trái phiếu theo thời gian và lãi suất đã thoả thuận tương tự như TPDN. Sự đặc thù của TPCĐ giúp nhà đầu tư thực hiện quyền chuyển đổi TPCĐ để sở hữu cổ phần của TCPH khi đến hạn chuyển đổi. Sự linh hoạt này giúp TPCĐ trở nên có nhiều lựa chọn hơn khi so sánh với TPDN thông thường.
Theo quy định tại Khoản 2, Điều 2 Nghị định 52/2006/NĐ-CP, khái niệm TPCĐ quy định: “Trái phiếu chuyển đổi là loại trái phiếu có thể chuyển đổi thành cổ phiếu 4 Nghị định 52/2006/NĐ-CP ngày 19 tháng 5 năm 2006 của Chính phủ quy định về phát hành trái phiếu doanh nghiệp. 5 Theo thông tin thông cáo báo chí thì đây là các tổ chức phát hành tiêu biểu sử dụng trái phiếu chuyển đổi để huy động vốn ngay sau khi Nghị định 52/2006/NĐ-CP được ban hành. Cụ thể: Ngân hàng TMCP Sài Gòn là đơn vị đầu tiên phát hành trái phiếu chuyển đổi sau khi có Nghị định bằng đợt phát hành tháng 9/2006 với tổng giá trị đợt phát hành là 1000 tỷ đồng; Ngân hàng TMCP Á Châu phát hành trong Quý 4/2006 với tổng giá trị 1.650 tỷ đồng; Công ty Cổ phần Đầu tư Hạ Tầng Kỹ Thuật Thành phố Hồ Chí Minh là doanh nghiệp phi tài chính chứng khoán đầu tiên phát hành 131,5 tỷ đồng trái phiếu chuyển đổi năm 2006.vn/webcenter/portal/vi/menu/sm/chitiet/inbaiviet?dDocName=CNTHWEBAP01162531 765&_afrLoop=43782497960341224#%40%3F_afrLoop%3D43782497960341224%26centerWidth%3D100 %2525%26dDocName%3DCNTHWEBAP01162531765%26leftWidth%3D0%2525%26pageTemplate%3D %252Foracle%252Fwebcenter%252Fsiteresources%252FscopedMD%252Fs8bba98ff_4cbb_40b8_beee_296 c916a23ed%252FsiteTemplate%252Fgsreb7f299f_0d88_4514_a092_22e830e01a86%252FTemplate.jspx%2 6rightWidth%3D0%2525%26showFooter%3Dfalse%26showHeader%3Dfalse%26_adf.ctrl- state%3D12yavyooih_4, truy cập ngày 12/12/2021.vn/CII-ctcp-dau-tu-ha-tang-ky- thuat-thanh-pho-ho-chi-minh.htm, truy cập ngày 12/12/2021.com/vi/2006/10/acb-thanh- cong-trong-viec-phat-hanh-trai-phieu-chuyen-doi-dot-1-113-31795.htm?channel_temp=830, truy cập ngày 12/12/2021 8 phổ thông của cùng một tổ chức phát hành theo các điều kiện đã được xác định trong phương án phát hành”. Cho đến nay, Nghị định 153/2020/NĐ-CP cũng không có sự thay đổi nhiều khi quy định: “Trái phiếu chuyển đổi” là loại hình trái phiếu do công ty cổ phần phát hành, có thể chuyển đổi thành cổ phiếu phổ thông của chính doanh nghiệp phát hành theo điều kiện, điều khoản đã được xác định tại phương án phát hành trái phiếu”.
Có thể thấy khái niệm về TPCĐ của pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ vẫn giữ nguyên về nội hàm của ba (03) vấn đề. Bao gồm: (i) TCPH được quyền phát hành TPCĐ là CTCP. Bản thân TPCĐ sẽ trở nên hoàn hảo và trọn vẹn hơn khi hai bên trong giao dịch đạt đến đích cuối cùng là chuyển đổi TPCĐ thành cổ phiếu. Vì đối tượng chuyển đổi là “cổ phiếu” chứ không phải là “phần vốn góp” nên công ty trách nhiệm hữu hạn không thể đáp ứng được tiêu chí chuyển đổi này.
Điều này cho thấy, pháp luật đã ưu ái hoạt động huy động vốn của CTCP là đa dạng hơn rất nhiều so với công ty trách nhiệm hữu hạn. 6 (ii) TPCĐ được chuyển đổi thành cổ phần phổ thông của TCPH. Vốn của CTCP gồm cổ phần phổ thông và các loại cổ phần ưu đãi khác như cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi biểu quyết, cổ phần ưu đãi hoàn lại và các loại cổ phần ưu 7 đãi khác quy định tại điều lệ của CTCP. Quyền và nghĩa vụ của cổ đông phổ 8 thông là đa dạng và đầu đủ hơn so với các cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi.
Việc chuyển đổi TPCĐ thành cổ phần phổ thông đảm bảo cơ chế thực hiện quyền và nghĩa vụ đầy đủ với tư cách là chủ sở hữu của nhà đầu tư sau khi chuyển đổi TPCĐ. Tuy nhiên, quy định về TPCĐ đã loại bỏ khả năng có sự tham gia của chủ 9 thể công ty mẹ và con khiến nó chưa thật sự linh hoạt ngoài yếu tố chuyển đổi. 6 Quy định của pháp luật hiện hành về đối tượng chuyển đổi cũng hẹp hơn nếu so sánh với các nghiên cứu của các tác giả về pháp luật nước ngoài. Cụ thể, trái phiếu chuyển đổi có thể chuyển đổi thành cổ phiếu cổ thông, trái phiếu hoặc các loại chứng khoán khác… Xem thêm: Nguyễn Hồng Năng (2015), “Thị trường vốn nợ, luật và hợp đồng”, Nhà xuất bản Công Thương, trang 295.
Hoặc: Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Đình Cung (2008), “Công ty, vốn, quản lý và tranh chấp”, Nhà xuất bản Tri Thức, trang 198. 7 Khoản 2, Điều 114 Luật Doanh nghiệp 2020 giữ nguyên quy định tại Khoản 2, Điều 113 Luật Doanh nghiệp 2014. 8 Điều 115 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định về quyền và nghĩa vụ của cổ đông phổ thông đầy đủ hơn so với quyền và nghĩa vụ của cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi tại các Điều 116, 117, 118. 9 Trong tác phẩm “International Loans, Bonds and Securities Regulation” của tác giả Wood Philip, ông có đưa ra nhận định về trái phiếu chuyển đổi như sau: “Phát hành trái phiếu có thể chuyển đổi là việc phát hành trái phiếu của công ty, điều khoản cho phép người sở hữu chuyển đổi trái phiếu của mình lấy cổ phiếu của công ty phát hành hoặc của công ty mẹ hoặc công ty con của công ty phát hành” - Dịch từ: “Convertible bond issues are issues of bonds by company, the terms of which allow the holder to exchange his bonds for shares of the company or of the company's parent or subsidiary.”, London, Sweet & Maxwell 1995, p.
9 (iii) Các điều kiện điều khoản của TPCĐ được TCPH quy định để làm cơ sở cho hoạt động phát hành và chuyển đổi. Điều này cũng khẳng định, các điều kiện, điều khoản mà TCPH quy định chính là hình dạng pháp lý của TPCĐ. Đối với hoạt động phát hành TPCĐ, pháp luật tạo nền tảng cơ sở pháp lý để hoạt động phát hành diễn ra theo nhu cầu huy động vốn và nhu cầu đầu tư của các chủ thể trên thị trường. Hoạt động phát hành TPCĐ được hiểu theo các yếu tố sau: Thứ nhất, hoạt động phát hành TPCĐ là hoạt động đặc thù của CTCP được triển khai với sự tham gia của các cơ quan, tổ chức chuyên môn.
Tương tự như TPDN và cổ phiếu, hoạt động phát hành TPCĐ buộc phải có sự tham gia của các cơ quan chuyển môn và cơ quan nhà nước về nhằm đảm bảo hoạt động phát hành phù hợp với quy định của pháp luật. Những cơ quan chuyên môn và cơ quan nhà nước góp phần tạo sự chắc chắn và đảm bảo tính an toàn, minh bạch của TPCĐ và giao dịch giữa nhà đầu tư với TCPH. Thứ hai, hoạt động phát hành TPCĐ đáp ứng nhu cầu về vốn và đầu tư của hai chủ thể chính trong giao dịch này là TCPH và nhà đầu tư Vận hành và phân bổ nguồn vốn là một trong những vấn đề phức tạp của doanh nghiệp. Khi nguồn vốn bị thiếu hụt, TCPH có thể sử dụng phương án huy động vốn mà pháp luật cho phép để đảm bảo mục tiêu duy trì hoạt động, tạo động lực để phát triển.
Cùng với cổ phiếu và TPDN, TPCĐ là lựa chọn để TCPH sử dụng vốn vay nhằm đáp ứng nhu cầu vốn. Thông qua việc phát hành này, mục tiêu của TPCH là nguồn vốn thu được để phục vụ hoạt động. Tính chất chuyển đổi trong tương lai giúp TCPH tăng tính hấp dẫn của TPCĐ đồng thời là cách để TCPH tránh trả nợ khi nợ vay được chuyển thành vốn chủ sở hữu. Ngược lại, nhà đầu tư tham gia giao dịch này với mục tiêu thỏa mãn nhu cầu thu lợi từ khoản đầu tư.
Ban đầu bản chất của giao dịch này là vay vốn và trả lãi nhưng sự chuyển đổi diễn ra làm triệt tiêu trách nhiệm của quan hệ này. Thứ ba, pháp luật định hình khung pháp lý để hoạt động phát hành TPCĐ diễn ra hiệu quả hơn Kể từ khi thừa nhận sự tồn tại của TPCĐ và quy định về phát hành TPCĐ trong Nghị định 52/2006/NĐ-CP, pháp luật đã liên tục thay đổi theo hướng chi tiết và phân hóa hơn để đảm bảo hoạt động phát hành TPCĐ được diễn ra theo đúng chủ thể và phương án phát hành. Trải qua các lần sửa đổi, bổ sung, đến nay Nghị định 153/2020/NĐ-CP đã thật sự phân chia về hoạt động phát hành TPCĐ rõ hơn cùng với LCK 2019. Theo những quy định này, hoạt động phát hành TPCĐ ra công chúng 10 thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật chứng khoán.
Ngược lại hoạt động phát hành riêng lẻ sẽ thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật doanh nghiệp. TCPH căn cứ theo nội dung về điều kiện, trình tự, thủ tục để thực hiện phù hợp với nhu cầu của mình. Có thể nói, sự hiệu quả của hoạt động phát hành phụ thuộc rất lớn vào các quy định của pháp luật điều chỉnh. Cho nên, vấn đề cấp thiết đặt ra là pháp luật cần phải liên tục thay đổi, điều chỉnh để phù hợp với tình hình và sự phát triển của thị trường vốn nợ.
Đặc điểm pháp lý của trái phiếu chuyển đổi TPCĐ là loại chứng khoán mang bản chất pháp lý đặc thù bởi người sở hữu TPCĐ có thể thực hiện quyền chuyển đổi trái phiếu thành cổ phiếu theo những điều kiện, điều khoản quy định ban đầu. Hoạt động phát hành TPCĐ cũng như sự chuyển đổi của TPCĐ khiến chúng mang những đặc điểm sau: 1. Trái phiếu chuyển đổi là một loại tài sản linh hoạt Theo quy định về quản lý giấy tờ có giá tại Thông tư số 135/2018/TT-BTC ngày 28/12/2018 thì có thể khẳng định TPCĐ cũng là giấy tờ có giá và là một loại 10 tài sản được quy định theo pháp luật dân sự. Tuy nhiên, không đơn thuần là “giấy xác nhận nợ” như TPDN, pháp luật đã tạo cho TPCĐ một đặc điểm riêng biệt mà căn cứ vào đây, TCPH có thể linh hoạt sử dụng TPCĐ để tận dụng đặc điểm “có thể chuyển đổi thành cố phiếu” làm tăng tính thu hút và linh hoạt khi phát hành.