MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đại văn hào Lỗ Tấn đã từng khẳng định “Ước mơ không phải là cái sẵn có, cái không thể có. Ước mơ giống như một con đường tiềm ẩn để người ta khai phá và vượt qua”. Chính ước mơ đã nuôi dưỡng khát khao của con người, khát khao tìm kiếm những miền đất mới, khát khao vươn ra đại dương và giờ đây là những khát khao chinh phục vũ trụ bao la.
Nửa thế kỷ qua, từ khi Liên Xô phóng thành công Vệ tinh nhân tạo Sputnik lên vũ trụ vào năm 1957, cộng đồng quốc tế đã có những bước tiến dài trong việc thăm dò, chinh phục và khai thác vũ trụ để phục vụ cho đời sống con người. Bên cạnh việc mang lại nhiều tiện ích, sử dụng KKVT cũng đang đưa lại cho nhân loại nhiều vấn đề phức tạp như chạy đua vũ trang trên vũ trụ, ô nhiễm vũ trụ, tai họa xảy ra do những vật thể phóng vào vũ trụ có sử dụng nguồn năng lượng hạt nhân. Những vấn đề này, nếu không được giải quyết thỏa đáng, có thể thách thức cuộc sống con người trên Trái đất, đe dọa đến hòa bình và an ninh quốc tế. Trong khoảng thời gian ấy, Luật Vũ trụ quốc tế cũng đã phát triển hết sức nhanh chóng, tạo ra một khuôn khổ pháp lý quan trọng để điều chỉnh hoạt động của các quốc gia và của các thực thể phi chính phủ trên vũ trụ, ngăn chặn chạy đua vũ trang và bảo vệ môi trường xung quanh Trái đất và trong KKVT.
Tuy nhiên, đối với hoạt động khai thác và sử dụng KKVT của các tổ chức, thực thể tư thuộc thẩm quyền tài phán của quốc gia thì pháp luật quốc gia mới thực sự có giá trị hiệu lực. Việt Nam đã sớm nhận thức được tầm quan trọng của lĩnh vực khoa học và CNVT. Ngày 27/12/1979, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 454/CP thành lập “Ủy ban nghiên cứu vũ trụ Việt Nam” và giao cho Ủy ban thực hiện nhiệm vụ chuẩn bị nội dung khóa học cho “Chuyến bay vũ trụ Liên Xô – Việt Nam”. Từ 23 đến 31 tháng 7 năm 1980, chuyến bay hỗn hợp Xô – Việt đã được thực hiện thành công.
Phi công vũ trụ đầu tiên của Việt Nam Phạm Tuân đã cùng bay với nhà du 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hành vũ trụ Nga V.V Gorơbatcô và thực hiện một số thí nghiệm khoa học trong vũ trụ [15]. Những năm qua, một số thành tựu của khoa học và CNVT đã được triển khai ứng dụng ở nước ta trong các lĩnh vực thông tin liên lạc, khí tượng thủy văn, viễn thám, định vị nhờ vệ tinh,. đặc biệt là sự kiện ngày 19/4/2008 chúng ta phóng thành công vệ tinh VINASAT – 1, đưa được vệ tinh đầu tiên mang cờ Việt Nam lên quỹ đạo Trái đất, khẳng định “sự có mặt” của Việt Nam trên không gian vũ trụ, tạo nên một cột mốc mới trong hành trình phát triển của ngành viễn thông Việt Nam. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, phạm vi và hiệu quả nghiên cứu và ứng dụng CNVT ở nước ta còn hạn chế, chưa tương xứng với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội hiện nay và trong tương lai của đất nước.
Vì vậy, để thúc đẩy nghiên cứu và ứng dụng CNVT, đưa CNVT phục vụ thiết thực và có hiệu quả sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá và phát triển kinh tế - xã hội bền vững của đất nước, ngày 14 tháng 6 năm 2006, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 137/QĐ – TTg về việc phê duyệt “Chiến lƣợc nghiên cứu và ứng dụng Công nghệ vũ trụ đến năm 2020”. Tại phần III.2, Chiến lược xác định rõ nhiệm vụ “Hình thành chính sách quốc gia và khung pháp lý về nghiên cứu, ứng dụng và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực CNVT”. Như vậy, cùng với việc thúc đẩy hoạt động nghiên cứu, ứng dụng CNVT, việc xây dựng khung pháp lý điều chỉnh các hoạt động khai thác và sử dụng KKVT là không thể thiếu. Việt Nam đang bước đầu thực hiện ước mơ chinh phục KKVT đồng thời với quá trình xây dựng hệ thống pháp luật về vũ trụ.
Do đó, việc nghiên cứu pháp luật của một số quốc gia trên thế giới, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam là thực sự cần thiết. Vì vậy, tác giả đã chọn đề tài luận văn: “Pháp luật một số quốc gia về sử dụng khoảng không vũ trụ và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam trong quá trình xây dựng pháp luật vũ trụ”. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Từ trước đến nay, liên quan đến lĩnh vực vũ trụ nước ta mới chỉ có những hoạt động nghiên cứu bước đầu trong một số lĩnh vực khoa học và CNVT.
Đó là các đề tài nghiên cứu về vật lý vũ trụ và CNVT trong Chương trình khoa học của chuyến bay vũ trụ phối hợp Liên Xô - Việt Nam (1981 – 1982), và trong Chương trình nghiên cứu cấp nhà nước 48.07 “Ứng dụng thành tựu nghiên cứu và sử dụng khoảng không vũ trụ” (1981 – 1985). Cùng với các kết quả về thực nghiệm, một số công trình nghiên cứu khoa học đã được công bố trên các tạp chí khoa học kỹ thuật trong và ngoài nước hoặc báo cáo tại hội nghị, hội thảo khoa học quốc tế [12]. Trong lĩnh vực luật vũ trụ, ngoài các chuyên đề về Luật vũ trụ quốc tế được viết trong giáo trình Luật Quốc tế của trường Đại học Luật Hà Nội, đã có một số luận văn thạc sĩ được bảo vệ thành công. Những luận văn này chủ yếu tập trung vào phân tích các vấn đề pháp lý quốc tế cơ bản về luật vũ trụ, mặc dù, có đề cập đến pháp luật vũ trụ quốc gia song chỉ dưới góc độ tổng quan, không đi sâu phân tích cụ thể và chưa đưa ra được các mô hình tổng quát.
Điểm mới của đề tài Đề tài “Pháp luật một số quốc gia về sử dụng khoảng không vũ trụ và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam trong quá trình xây dựng pháp luật vũ trụ” đã đạt được một số điểm mới sau: - Nêu bật được vai trò của pháp luật vũ trụ quốc gia trong việc điểu chỉnh hoạt động khai thác và sử dụng KKVT vì mục đích hòa bình. - Tổng quan về tình hình xây dựng hệ thống chính sách, pháp luật về khai thác và sử dụng KKVT của các quốc gia trên thế giới. - Khái quát 3 cấu trúc khung pháp luật vũ trụ hiện đã và đang được áp dụng ở các một số quốc gia trên thế giới. Đồng thời, phân tích pháp luật của 3 nước tiêu biểu cho 3 cấu trúc (LBN, Hoa Kỳ, Ukraine) và 1 quốc gia đại diện cho khu vực Đông Nam Á có hoàn cảnh địa chính trị, xã hội, pháp lý khá tương đồng với Việt 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nam, đó là Indonesia.
Từ đó, rút ra kết luận về những điểm tương đồng và khác biệt trong pháp luật vũ trụ của một số quốc gia trên thế giới. - Luận giải được sự cần thiết phải ban hành luật vũ trụ ở Việt Nam và đưa ra các định hướng, nguyên tắc chỉ đạo trong quá trình xây dựng luật vũ trụ. - Lựa chọn cấu trúc xây dựng hệ thống pháp luật vũ trụ phù hợp với hoàn cảnh thực tế hiện nay của Việt Nam trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế, đồng thời, khuyến nghị về cấu trúc và nội dung của luật chuyên biệt điều chỉnh hoạt động sử dụng KKVT. - Khuyến nghị các giải pháp cho việc xây dựng và thực thi pháp luật Việt Nam về khai thác và sử dụng KKVT vì mục đích hòa bình.
Phƣơng pháp nghiên cứu Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam và pháp luật của Nhà nước ta. Ngoài ra, tác giả còn sử dụng một số phương pháp cụ thể khác như: phân tích, so sánh, thống kê, tổng hợp, lập bảng biểu, sơ đồ hóa,… 5. Kết cấu của luận văn Luận văn được chia thành 3 chương với nội dung chính như sau: Chƣơng 1 - Tổng quan khung pháp luật quốc tế về khai thác và sử dụng khoảng không vũ trụ vì mục đích hòa bình: Chương này tập trung vào phân tích một số khái niệm chính, lịch sử phát triển của Luật Vũ trụ quốc tế, chủ thể của Luật vũ trụ quốc tế, nguồn và các nguyên tắc cơ bản của Luật Vũ trụ quốc tế. Ngoài ra, ở chương này, tác giả còn đưa ra một số nhận định về xu hướng phát triển của Luật Vũ trụ quốc tế trong thế kỷ 21.
Chƣơng 2 – Pháp luật một số quốc gia trên thế giới về khai thác và sử dụng khoảng không vũ trụ vì mục đích hòa bình. Chương này tác giả giới thiệu tổng quan về hệ thống chính sách, pháp luật vũ trụ của các quốc gia trên thế gới, đồng thời tập trung phân tích kỹ pháp pháp luật của một số quốc gia cụ thể (Liên 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Bang Nga, Hoa Kỳ, Ucraine, Indonesia). Từ đó rút là kết luận về những điểm tương đồng, khác biệt trong hệ thống pháp luật vũ trụ của các quốc gia. Chƣơng 3 – Một số kiến nghị, giải pháp đối với quá trình xây dựng pháp luật về khai thác và sử dụng khoảng không vũ trụ vì mục đích hòa bình ở Việt Nam.
Chương này tác giả tập trung phân tích một số luận điểm sau: Sự cần thiết phải xây dựng pháp luật Việt Nam về khai thác và sử dụng KKVT; Các định hướng và nguyên tắc chỉ đạo việc xây dựng hệ thống pháp luật Việt Nam về vũ trụ; Cấu trúc khung pháp luật về khai thác và sử dụng KKVT ở Việt Nam; Một số kiến nghị, giải pháp đảm bảo cho việc xây dựng và thực thi pháp luật Việt Nam về khai thác và sử dụng KKVT vì mục đích hòa bình. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: TỔNG QUAN KHUNG PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG KHOẢNG KHÔNG VŨ TRỤ VÌ MỤC ĐÍCH HÒA BÌNH 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm khoảng không vũ trụ Từ năm 1959, vấn đề định nghĩa KKVT đã được đưa ra và thảo luận tại Ủy ban lâm thời về sử dụng KKVT vì mục đích hòa bình của Liên hợp quốc (LHQ) [33].