phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn có kết cấu như sau: Chƣơng 1. Lý luận chung về quản trị công ty đại chúng. Thực trạng quy định pháp luật về quản trị công ty đại chúng tại Việt Nam và kiến nghị hoàn thiện. 9 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐẠI CHÚNG 1.
Khái quát về quản trị công ty đại chúng 1. Khái niệm và nguồn gốc công ty đại chúng 1. Khái niệm công ty đại chúng Quản trị công ty đại chúng là đối tượng nghiên cứu của nhiều lĩnh vực khoa học, đặc biệt là kinh tế học và luật học bởi quản trị doanh nghiệp là vấn đề về chi phí, về tính hiệu quả trong hoạt động của một doanh nghiệp nói chung và của nhà đầu tư nói riêng. Nếu như kinh tế học tiếp cận, nghiên cứu khái niệm quản trị công ty (QTCT) dưới vấn đề chi phí và tính hiệu quả trong hoạt động kinh doanh thì luật học lại quan tâm đến QTCT chủ yếu việc bảo vệ quyền tự do kinh doanh và hạn chế rủi ro cho nhà đầu tư và công chúng2.
Dưới cả góc độ kinh tế học và luật học thì có rất nhiều định nghĩa về QTCT theo từng thời kỳ và từng tiêu chí khác nhau, trong luận văn này chủ yếu đề cập đến các định nghĩa, khái niệm ở góc độ luật học. Tác giả cho rằng khi định nghĩa dưới góc độ luật học có hai trường phái chính như sau: Trường phái thứ nhất cho rằng: "quản trị doanh nghiệp là tổ hợp những phương pháp nội bộ dùng để kiểm soát các vấn đề trong công ty" Trong áo cáo đệ trình của nhóm tư vấn kinh doanh do ông Ira.Mi Ustein làm trưởng nhóm có viết: QTCT là việc công ty áp dụng những phương pháp mang tính nội bộ để quản lý hoạt động của công ty. Nó được thể hiện qua mối quan hệ nội bộ giữa cổ đông, HĐQT và nhà quản lý. QTCT được hiểu là cơ cấu các ước quan hệ và trách nhiệm tương ứng giữa một nhóm chủ chốt bao gồm cổ đông, thành viên HĐQT và các nhà quản lý được hình thành nhằm tăng cường khả năng 2 Lê Vũ Nam và các tác giả khác (2018), Pháp luật về QTCT niêm yết trên TTCK Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia TP.
HCM, Thành phố Hồ Chí Minh [Tr. 49] 10 cạnh tranh cần thiết để đạt được mục tiêu chính của công ty 3.Leifer và Vishny (1997) cũng cho rằng: QTCT là các phương thức mà các nhà đầu tư cấp vốn cho công ty sử dụng và chính nhờ đó mà họ bảo đảm thu được những lợi tức từ khoản đầu tư của họ.Mallon chuyên viên cao cấp của cơ quan phát triển quốc tế Hoa kỳ th định nghĩa: QTCT được hiểu là các quy tr nh mà qua đó HĐQT giám sát GĐ/TGĐ công ty và những nhà quản lý khác chịu trách nhiệm quản lý công ty hàng ngày, qua đó thành viên HĐQT chịu trách nhiệm đối với nhà đầu tư, chủ nợ, doanh nghiệp và các bên liên quan khác. Mục đích của QTCT là bảo vệ lợi ích của các bên có liên quan, mà trọng tâm là bảo vệ lợi ích của người góp vốn 5. Theo Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD QTCT là những biện pháp nội bộ để điều hành và kiểm soát công ty…, liên quan tới các mối quan hệ giữa BGĐ, HĐQT và các cổ đông của một công ty với các bên có quyền lợi liên quan.
QTCT cũng tạo ra một cơ cấu để đề ra các mục tiêu của công ty, và xác định các phương tiện để đạt được những mục tiêu đó, cũng như để giám sát kết quả hoạt động của công ty. Hoạt động này chỉ được cho là có hiệu quả khi khích lệ được BGĐ và HĐQT theo đuổi các mục tiêu vì lợi ích của công ty và của các cổ đông, cũng như phải tạo điều kiện thuận lợi cho việc giám sát hoạt động của công ty một cách hiệu quả, từ đó khuyến khích công ty sử dụng các nguồn lực một cách tốt hơn 6. Cụ thể hoá định nghĩa này, OECD tổng hợp kinh nghiệm tại nhiều quốc gia và đưa ra khuyến nghị về QTCT nhằm hướng tới bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư, của các bên liên quan; tăng tính minh ạch và trách nhiệm của HĐQT nhằm mục đích thu hút nguồn lực. Millstein (2003), Quản trị công ty-Nâng cao năng lực cạnh tranh và tiếp cận nguồn vốn trên thị trường toàn cầu, Báo cáo đệ tr nh lên OECD của nhóm tư vấn về quản trị công ty, NXB Giao thông vận tải [Tr.Mallin (2013), Corporate Governance ; Oxford University Press [Tr.
31] 5 Phạm Duy Nghĩa (2004), Chuyên khảo Luật Kinh tế, NXB Đại học quốc gia Hà Nội [Tr. 30] 6 Tổ chức tài chính quốc tế IFC (2014) Các nguyên tắc về quản trị công ty của G20/OECD [Tr. 6] 11 Trong Bộ Nguyên tắc QTCT theo Thông lệ tốt nhất của Việt Nam do tổ chức tài chính quốc tế (IFC), một thành viên trong nhóm Ngân hàng thế giới, với sự hỗ trợ của Cục kinh tế Liên bang Thụy Sĩ (SECO) phối hợp cùng Ủy ban chứng khoán Việt Nam an hành th có định nghĩa rằng QTCT là một tập hợp các mối quan hệ giữa Ban Điều hành, HĐQT, cổ đông và các ên có quyền lợi liên quan khác của công ty. Theo luật sư Nguyễn Ngọc Bích, QTCT là một tập hợp các cơ chế có liên quan đến việc điều hành, cũng như kiểm soát công ty.
QTCT đề ra cách phân chia quyền hạn và nghĩa vụ giữa các đối tượng bao gồm cổ đông, HĐQT, BGĐ và những người có lợi ích có liên quan khác. Mục đích chính của QTCT là bảo vệ thích đáng quyền lợi của các cổ đông và đối xử công bằng giữa họ với nhau7. Tương tự cách định nghĩa này, Quỹ Mê Kông cho rằng: QTCT là tập hợp cơ chế nhằm điều khiển và kiểm soát công ty, hệ thống quản trị doanh nghiệp nhằm phân rõ quyền hạn và nghĩa vụ giữa các thành viên trong công ty, bao gồm các cổ đông, HĐQT, các cán bộ quản lý và các bên có quyền lợi liên quan khác. Hệ thống quản trị doanh nghiệp cũng thiết lập các quy tắc và quy trình cho việc ra các quyết định về các vấn đề của công ty.
Mục tiêu chính của quản trị doanh nghiệp là bảo vệ đầy đủ những lợi ích tốt nhất và sự đối xử công bằng đối với các cổ đông của công ty, vì mục tiêu của công ty nên là tối đa hoá giá trị cổ đông cho tất cả các cổ đông, kể cả cổ đông trong nước và cổ đông nước ngoài 8. C ng quan điểm như vậy, PGS.TS Phạm Duy Nghĩa cho rằng: QTCT là một tập hợp các cơ chế có liên quan đến điều hành và quản lý công ty, đề ra các phương án phân chia quyền lực giữa các nhân tố tác động đến công ty bao gồm cổ 7 Nguyễn Ngọc Bích (2004), Luật Doanh nghiệp, vốn và quản lý trong công ty cổ phần, NXB. Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh [Tr. 255] 8 Phạm Duy Nghĩa (2004), Chuyên khảo Luật Kinh tế, NXB Đại học quốc gia Hà Nội [Tr.
35] 12 đông,HĐQT, bộ máy điều hành và các đối tượng khác (người lao động, chủ nợ, nhà cung cấp, đại lý ao tiêu) 9. Ngoài ra khi phân tích vấn đề này, Tiến sĩ Đinh Văn Ân cho rằng QTCT theo nghĩa hẹp là cơ chế giám sát của chủ sở hữu đối với người quản lý công ty theo những mục tiêu và định hướng đã định. Theo nghĩa rộng hơn, QTCT gắn liền với quyền lợi của chủ sở hữu, của chủ nợ, người cung cấp, người lao động, thậm chí cả khách hàng của công ty. Về mặt tổ chức, QTCT là tập hợp các mối quan hệ giữa chủ sở hữu, HĐQT và các bên liên quan nhằm xác định mục tiêu và giám sát việc thực hiện mục tiêu của công ty 10.
Với đa số cách định nghĩa này, nếu xem QTCT là một loại quan hệ pháp luật th đó chính là về tổ chức quản lý công ty. Khi đó, ở khía cạnh khác của khoa học pháp lý, QTCT c n được hiểu như là loại chế định pháp lý, đó là chế định về tổ chức công ty. Do vậy, bản chất của QTCT có thể được hiểu là cơ chế tổ chức quản lý công ty nhằm mục đích hướng tới bảo vệ một số chủ thể nhất định. Trường phái thứ hai cho rằng: "quản trị doanh nghiệp là hệ thống các thể chế pháp luật dùng để kiểm soát sự minh bạch trong công ty" Theo Ngân hàng thế giới (WB), "QTCT là một hệ thống các yếu tố pháp luật, thể chế và thông lệ quản lý của công ty, cho phép công ty có thể thu hút được các nguồn tài chính và nhân lực, hoạt động có hiệu quả, nhờ đó tạo ra các giá trị kinh tế lâu dài cho các cổ đông, trong khi vẫn tôn trọng quyền lợi của những người có lợi ích liên quan và của xã hội.
Đặc điểm cơ ản nhất của hệ thống QTCT là: tính minh bạch của các thông tin tài chính kinh doanh và quá trình giám sát nội bộ đối với hoạt động quản lý; đảm bảo thực thi các quyền của tất cả các cổ đông; Thành viên HĐQT có thể hoàn toàn độc lập trong việc thông qua các quyết định phê chuẩn kế hoạch kinh doanh tuyển dụng người quản lý, trong việc giám sát tính trung thực và 9 Phạm Duy Nghĩa (2004), Chuyên khảo Luật Kinh tế, NXB Đại học quốc gia Hà Nội [Tr. 38] 10 Trần Lương Đức (2019), Quản trị công ty đại chúng theo pháp luật của Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ [Tr. 37] 13 hiệu quả của hoạt động quản lý và trong việc miễn nhiệm người quản lý khi cần thiết"11. Theo Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB), "QTCT bao gồm một hệ thống các quy chế xác định rõ mối quan hệ giữa cổ đông, các chức danh quản lý, các chủ nợ, chính phủ và những người có liên quan khác cũng như hệ thống các cơ chế đảm bảo thực hiện các quy chế trên"12.
Theo cuốn Pháp luật về quản trị công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán do PGS.TS Lê Vũ Nam làm chủ biên cho rằng hiện tại không có một khái niệm chung, thống nhất về QTCT nói chung. V căn cứ theo truyền thống lập pháp và văn hóa thị trường của từng quốc gia mà sẽ có cách tiếp cận khác nhau để cho ra một định nghĩa khác nhau. QTCT là một chủ đề rất rộng nhưng trong phạm vi luận văn này. Tác giả đồng ý với quan điểm của PGS.TS Lê Vũ Nam và cho rằng khái niệm QTCT trong trường hợp này nên được định nghĩa dưới góc độ nghiên cứu pháp lý13.