CHƯƠNG I: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm và đặc điểm về hợp đồng mua bán hàng hóa 1.1 Khái niệm về hợp đồng mua bán hàng Hàng hóa là sản phẩm của lao động , thông qua việc trao đổi hàng hóa để đáp ứng nhu cầu của con người. Việc trao đổi hàng hóa là yếu tố thiết yếu trong nền kinh tế.
Từ rất lâu trước đây con người đã biết trao đổi hàng hóa thông qua quá trình phát triển của kinh tế, việc trao đổi dần chuyển hóa thành mua bán thông qua thước đo là tiền tệ và hình thành các quan hệ pháp luật về mua bán hàng hóa. Trong quan hệ pháp luật về mua bán hàng hóa thì hợp đồng là căn cứ pháp lý để minh chứng cho sự hình thành và chấm dứt quyền của mỗi bên trong quan hệ mua bán hàng hóa, từ đó có thể thấy vai trò quan trọng của hợp đồng mua bán hàng hóa. Vì vậy từ sớm hợp đồng này đã được định nghĩa trong pháp luật Việt Nam. Hợp đồng hiểu theo nghĩa rộng là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên về một vấn đề nhất định trong xã hội nhằm làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt các quyền hay nghĩa vụ của các bên.
Theo Bộ luật Dân sự 2015 đã đưa ra khái niệm về hợp đồng dân sự một cách khái quát như sau: "Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán. Hợp đồng mua bán hàng hóa là một loại hợp đồng cụ thể của hợp đồng mua bán tài sản, mặt khác hợp đồng mua bán hàng hóa là hình thức pháp lý của hoạt động mua bán hàng hóa. Với "mua bán hàng hóa là hành vi thương mại, theo đó người bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho người mua và nhận tiền; người mua có nghĩa vụ trả tiền cho người bán và nhận hàng theo thỏa thuận của hai bên" (Khoản 8 điều 3 Luật Thương mại 2005). Qua 2 khái niện trên ta thấy đã có sự đồng nhất giữa Bộ luật dân sự và luật thương mại về định nghĩa hợp đồng mua bán hàng hóa từ đó ta có thể định nghĩa chung hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại là: “Sự thỏa thuận giữa các bên , theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu hàng hóa (tài sản) cho bên mua và bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán” từ khi hợp đồng được ký kết có thể phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ.2 : Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa Từ khái niệm ta có thể nhận định rằng hợp đồng mua bán hàng hóa là một phần của hợp đồng mua bán tài sản.
Vì thế có thể thấy các đặc điểm của hợp đồngmua bán hàng 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hóa trong mối liên hệ với hợp đồng mua bán tài sản theo nguyên lý của mối quan hệ giữa cái riêng và cái chung. – Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa: + Là hợp đồng ưng thuận – tức là nó được coi là giao kết tại thời điểm các bên thỏa thuận xong các điều khoản cơ bản, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng không phụ thuộc vào thời điểm bàn giao hàng hóa, việc bàn giao hàng hóa chỉ được coi là hành động của bên bán nhắm thực hiện nghĩa vụ của hợp đồng mua bán đã có hiệu lực. + Có tính đền bù – bên bán khi thực hiện nghĩa vụ giao hàng hóa cho bên mua thì sẽ nhận từ bên mua một lợi ích tương đương với giá trị hàng hóa theo thỏa thuận dưới dạng khoản tiền thanh toán. + Là hợp đồng song vụ – mỗi bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa đều bị ràng buộc bởi nghĩa vụ đối với bên kia, đồng thời lại cũng là bên có quyền đòi hỏi bên kia thực hiện nghĩa vụ đối với mình.
Trong hợp đồng mua bán hàng hóa tồn tại hai nghĩa vụ chính mang tính chất qua lại và liên quan mật thiết với nhau: nghĩa vụ của bên bán phải bàn giao hàng hóa cho bên mua và nghĩa vụ của bên mua phải thanh toán cho bên bá + Về chủ thể, hợp đồng mua bán hàng hóa được thiết lập giữa các chủ thể chủ yếu là thương nhân. Luật Thương mại 2005 quy định thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp; cá nhân hoạt động thương mai một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh. Ngoài ra, các tổ chức, cá nhân không phải là thương nhân cũng có thể trở thành chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa. Theo khoản 3 Điều 1 Luật Thương mại 2005, hoạt động của bên chủ thể không phải là thương nhân và không nhằm mục đích lợi nhuận trong quan hệ mua bán hàng hóa phải tuân theo luật Thương mại 2005 khi chủ thể này lựa chọn áp dụng luật Thương mại 2005 + Về hình thức hợp đồng mua bán hàng hóa có thể được thể hiện dưới hình thức lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể của các bên giao kết.
Trong một số trường hợp nhất định, pháp luật bắt buộc các bên phải giao kết hợp đồng dưới hình thức văn bản, ví dụ như hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phải được thể hiện dưới hình thức văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương như điện báo, telex, fax hay thông điệp dữ liệu. + Về đối tượng: hợp đồng mua bán hàng hóa có đối tượng là hàng hóa. Theo LTM Việt Nam 2005, hàng hóa là đối tượng của quan hệ mua bán có thể là hàng hóa hiện đang tồn tại hoặc hàng hóa sẽ có trong tương lai; hàng hóa có thể là động sản hoặc bất động sản được phép lưu thông thương mại. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Về Nội dung của hợp đồng chứa đựng những nội dung cơ bản của một hợp đồng mua bán hàng hóa là: tên hàng, số lượng, quy cách chất lượng, giá cả, phương thức thanh toán, địa điểm và thời hạn giao hàng.
Ngoài ra hợp đồng còn phải thêm những điều kiện để đảm bảo quyền lợi cho các bên nếu có tranh chấp xảy ra như nơi giải quyết tranh chấp, phương thức giải quyết tranh chấp. Do loại hợp đồng này có đặc điểm là các bên đều nhằm đến mục tiêu lợi nhuận nên đòi hỏi nội dung của hợp đồng phải đầy đủ, rõ ràng, tránh những hiểu lầm dẫn đến tranh chấp. Vì vậy các bên cần chú ý thận trọng soạn thảo nội dung của hợp đồng. Chẳng hạn đối với điều khoản tên hàng, cần kèm theo có mã số và mẫu hàng, đối với điều khoản về số lượng và trọng lượng cần chọn những đơn vị đo lường thống nhất, trường hợp không có đơn vị đo lường thống nhất thì cần có điều khoản giải thích, đối với điều khoản về thanh toán cần quy định rõ ràng đồng tiền thanh toán và phương thức thanh toán.
Khái niệm và đặc điểm về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 1.1: Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Về khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, pháp luật quốc tế và pháp luật các nước có nhiều cách tiếp cận khác nhau đối với khái niệm này song đều thống nhất chung một quan điểm rằng hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là hợp đồng mua bán hàng hóa có tính quốc tế. Một số công ước quốc tế đã định nghĩa về hợp đồng mua bán hàng hóa có tính quốc tế như sau: Điều 1 Công ước La Hay năm 1964 (Công ước về Luật thống nhất về thiết lập hợp đồng mua bán quốc tế các động sản hữu hình) quy định: “Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là hợp đồng mua bán hàng hóa được ký kết giữa các bên có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau và hàng hóa trong hợp đồng được dịch chuyển qua biên giới, hoặc việc ký kết hợp đồng được diễn ra ở các nước khác nhau”. Công ước Viên năm 1980 của Liên hợp quốc về Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế cũng gián tiếp định nghĩa về loại hợp đồng này khi quy định “Công ước này áp dụng đối với những hợp đồng mua bán hàng hoá được ký kết giữa các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau”. Khác với Công ước La Hay năm 1964, các yếu tố như địa điểm ký kết hợp đồng, việc dịch chuyển qua biên giới đối với đối tượng của hợp đồng không được Công ước Viên năm 1980 đề cập tới.
Công ước Viên năm 1980 cho thấy tính chất quốc tế trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế chỉ được xác định bởi yếu tố duy nhất là các bên giao kết hợp đồng có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau. Từ các định nghĩa trên, có thể hiểu hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là sự thống nhất về ý chí giữa các bên trong quan hệ mua bán hàng hoá có tính quốc tế mà thông qua 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đó, thiết lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các chủ thể đó với nhau. Tuy nhiên ngoài các công ước quốc tế, hệ thống pháp luật của các quốc gia cũng tồn tại những quan điểm khác nhau về tính quốc tế trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Theo pháp luật Pháp, việc xác định tính quốc tế trong hợp đồng mua bán hàng hóa được căn cứ vào tiêu chí kinh tế hoặc pháp lý.
Về tiêu chí kinh tế, một hợp đồng được coi là hợp đồng quốc tế khi nó tạo nên sự di chuyển qua lại biên giới các giá trị trao đổi tương ứng giữa hai nước. Về tiêu chí pháp lý, một hợp đồng được coi là hợp đồng quốc tế nếu nó bị chi phối bởi các tiêu chuẩn pháp lý của nhiều quốc gia như quốc tịch, nơi cư trú của các bên, nơi thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, nguồn vốn thanh toán. 2 Còn ở Việt Nam, việc đưa ra một khái niệm cụ thể về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế vẫn chưa được quan tâm thích đáng; căn cứ theo Luật thương mại năm 2005 thì mua bán hàng hoá quốc tế được thực hiện dưới các hình thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu.