CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỖ TRỢ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT 1. Khái niệm thu hồi đất, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất 1. Khái niệm thu hồi đất Theo khoản 11 điều 3 Luật đất đai 2013 thì: “Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai”. Người sử dụng đất gồm: - Tổ chức trong nước gồm cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức sự nghiệp công lập và tổ chức khác theo quy định của pháp luật về dân sự.
- Hộ gia đình, cá nhân trong nước. - Cộng đồng dân cư gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố và điểm dân cư tương tự có cùng phong tục, tập quán hoặc có chung dòng họ. - Cơ sở tôn giáo gồm chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường, niệm phật đường, tu viện, trường đào tạo riêng của tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo và cơ sở khác của tôn giáo. - Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao gồm cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện khác của nước ngoài có chức năng ngoại giao được Chính phủ Việt Nam thừa nhận; cơ quan đại diện của tổ chức thuộc Liên hợp quốc, cơ quan hoặc tổ chức liên chính phủ, cơ quan đại diện của tổ chức liên chính phủ.
-6- - Người Việt Nam định cư ở nước ngoài theo quy định của pháp luật về quốc tịch. - Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài gồm doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp Việt Nam mà nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại theo quy định của pháp luật về đầu tư. Như vậy, thu hồi đất sẽ dẫn đến hậu quả pháp lý chấm dứt quyền sử dụng đất của người sử dụng đất. Việc thu hồi đất có thể xuất phát từ những nguyên nhân khác nhau nhưng đều hướng đến hai mục đích.
Thứ nhất, thu hồi đất nhằm bảo vệ quyền sở hữu đất đai của Nhà nước khi người sử dụng đất có hành vi vi phạm pháp luật đất đai có khả năng gây tổn hại đến tài sản của Nhà nước. Thứ hai, thu hồi đất để hỗ trợ cho quá trình điều phối đất đai khi nhà nước cần điều chỉnh lại việc sử dụng đất về mục đích, chủ thể sử dụng theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất [30, tr. Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, Nhà nước chỉ trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất, do đó khi thu hồi đất Nhà nước chỉ thu lại quyền sử dụng đất mà trước đó mình đã trao cho người sử dụng đất. Thu hồi đất thông qua quyết định hành chính của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền [37, tr.
Khái niệm về hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển, Điều 3 [4]. Theo nghĩa thông thường, hỗ trợ là giúp đỡ nhau, giúp thêm vào, nhìn chung đó là các quy định và các chính sách của Nhà nước nhằm thể hiện sự nhân đạo, biểu hiện bản chất của dân, do dân và vì dân của Nhà nước ta nhằm hỗ trợ, chia sẻ khó khăn của người dân bị thu hồi đất, thông qua việc đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới… giúp đỡ một phần nào rủi ro mà họ phải gánh chịu khi Nhà nước thu hồi đất, đồng thời giúp cho người bị thu hồi đất nhanh chóng ổn định đời sống, sản xuất và kinh doanh. Khi Nhà nước thu hồi đất ngoài việc được bồi thường theo quy định của -7- pháp luật về đất đai thì người sử dụng đất còn được Nhà nước xem xét hỗ trợ. Việc hỗ trợ phải bảo đảm khách quan, công bằng, kịp thời, công khai và đúng quy định của pháp luật.
Hỗ trợ gồm các nhóm sau: Nhóm các loại hỗ trợ được quy định theo hình thức liệt kê cụ thể trong văn bản pháp luật. Nhóm hỗ trợ khác, nhóm hỗ trợ này tùy thuộc vào tình hình thực tế của địa phương mà có những quy định hỗ trợ cho phù hợp (chưa được liệt kê). Mục đích, ý nghĩa của việc hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất Thu hồi đất không chỉ làm chấm dứt mối quan hệ pháp luật đất đai (làm chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất) mà còn liên quan đến lợi ích hợp pháp của các bên có liên quan: Lợi ích của người bị thu hồi đất; lợi ích của Nhà nước, của xã hội; lợi ích của người hưởng lợi từ việc thu hồi đất (các nhà đầu tư, doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, cá nhân…). Do vậy trên thực tế việc giải quyết hậu quả của việc thu hồi đất gặp rất nhiều khó khăn, phức tạp.
Việc giải quyết tốt vấn đề hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất sẽ mang lại ý nghĩa to lớn trên nhiều phương diện. Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tại hội thảo “Nông dân bị thu hồi đất – Thực trạng và giải pháp”, cho thấy: Trong năm năm, từ năm 2001 – 2005, tổng diện tích đất nông nghiệp đã thu hồi là 366,44 nghìn ha (chiếm 3,89% đất nông nghiệp đang sử dụng), trong đó diện tích đất nông nghiệp đã thu hồi để xât dụng các khu công nghiệp và cụm công nghiệp là 39,56 nghìn ha, xây dựng đô thị là 70,32 nghìn ha và xây dựng kết cấu hạ tầng là 136,17 nghìn ha; theo thống kê cho đến tháng 8 năm 2010, Việt Nam có 254 khu công nghiệp với tổng diện tích 68.800 ha và 15 khu kinh tế với tổng diện tích 627. Việc thu hồi đất này đã tác động đến gần 627.495 hộ gia đình với khoảng 950.000 lao động và ảnh hưởng đến đời sống khoảng hơn 2,5 triệu người. Thực tế cho thấy, do mất đất sản xuất, mất nơi định cư đã làm cho người bị thu hồi đất không có nghề nghiệp ổn định, mất đi nơi sản xuất kinh doanh sau khi bị thu hồi đất.
Như chúng ta đã biết: Quyền sử dụng đất được pháp luật bảo hộ và xuất phát từ tuyên bố Việt Nam là nhà -8- nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do nhân dân, vì Nhân dân, Điều 2 [3], cùng với các quyền công dân khác được Hiến pháp ghi nhận: “Nhà nước tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội, có chính sách trợ giúp người cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo và người có hoàn cảnh khó khan khác. Nhà nước có chính sách phát triển nhà ở, tạo điều kiện để mọi người có chỗ ở” [37, tr. Vì vậy, Nhà nước luôn có chính sách về xóa đói, giảm nghèo, chăm lo cho người dân có nơi ở, nơi sản xuất mới tốt hơn so với trước khi bị thu hồi đất. Mục tiêu tạo điều kiện cho người bị thu hồi đất ổn định cuộc sống, sản xuất và tạo việc làm.
* Về phương diện chính trị Là một nước nông nghiệp với khoảng 70% dân số là nông dân, vấn đề đất đai ở Việt Nam có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và nhạy cảm. Các chính sách, pháp luật về đất đai có ảnh hưởng rất lớn đến sự ổn định về chính trị. Điều này có nghĩa là nếu chủ trương, chính sách pháp luật đất đai đúng đắn, phù hợp với thực tiễn và được thực thi nghiêm túc sẽ góp phần vào việc duy trì và củng cố sự ổn định chính trị. Ngược lại, sẽ làm phát sinh những điểm nóng tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổn định về chính trị.
Một trong các chính sách, pháp luật về đất đai được xã hội quan tâm đó là chính sách, pháp luật về hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất; bởi lẽ mảng chính sách, pháp luật này ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thu hồi đất. Trong trường hợp bị thu hồi đất quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất trực tiếp bị xâm hại. Họ không chỉ mất quyền sử dụng đất mà còn buộc phải di chuyển chỗ ở. Hậu quả là cuộc sống thường nhật của họ bị đảo lộn.
Với quan niệm truyền thống của người Việt Nam có an cư mới lạc nghiệp thì việc bị mất đất đai, nhà cửa thực sự ảnh hưởng rất lớn đối với người bị thu hồi đất. Do vậy, họ phản ứng rất gay gắt, quyết liệt thông qua việc khiếu nại đông người, khiếu kiện vượt cấp, kéo dài nếu không được Nhà nước hỗ trợ thỏa đáng. Các khiếu kiện về đất đai nói chung là khiếu khiện về hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất nói riêng tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổn định chính trị và dễ phát sinh thành các điểm nóng; cho nên việc giải quyết tốt vấn đề hỗ trợ là thực hiện tốt chính sách an dân để phát triển kinh -9- tế xã hội góp phần vào việc duy trì, củng cố về sự ổn định của chính trị. * Về phương diện kinh tế - xã hội Thực tiễn cho thấy hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất luôn là công việc khó khăn, phức tạp.
Các dự án chậm triển khai thực hiện theo tiến độ đề ra có nguyên nhân do công tác hỗ trợ không nhận được sự đồng thuận từ phía người bị Nhà nước thu hồi đất. Xét dưới góc độ kinh tế, dự án chậm triển khai thực hiện ngày nào là chủ đầu tư, các doanh nghiệp bị thiệt hại đáng kể về lợi ích kinh tế do máy móc, vật tư, thiết bị không đưa vào hoạt động được, người lao động không có việc làm trong khi doanh nghiệp vẫn phải trả lương, trả chi phí duy trì các hoạt động thường xuyên và trả lãi xuất vay vốn từ Ngân hàng… Vì vậy, thực hiện tốt công tác hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là điều kiện để doanh nghiệp sớm có mặt bằng triển khai các dự án đầu tư góp phần vào việc thúc đẩy tăng trưởng của nền kinh tế và nâng cao tính hấp dẫn của môi trường đầu tư, kinh doanh ở nước ta.