CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ HÀNH VI LÔI KÉO KHÁCH HÀNG BẤT CHÍNH THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO 1. KHÁI QUÁT VỀ HÀNH VI LÔI KÉO KHÁCH HÀNG BẤT CHÍNH THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO 1. Khái quát về quảng cáo 1. Khái niệm quảng cáo Từ quảng cáo có nguồn gốc từ tiếng Latinh là “Advertere”, có nghĩa là kêu gọi sự chú ý của mọi người vào một sự việc nào đó.
Đến thế kỷ 17, thời kỳ hưng thịnh của nền thương nghiệp Anh Quốc, từ “Advertise” mới được sử dụng rộng rãi. Ban đầu Advertise được sử dụng chỉ nhiều hoạt động khác nhau của quảng cáo, dần dần mới đổi sang nghĩa “Advertising” như ngày nay. Như vậy, từ quảng cáo chỉ được sử dụng rộng rãi khi hoạt động thương mại phát triển.3 Theo Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ (American Marketing Association – AMA) định nghĩa: “Quảng cáo là sự giao tiếp thông tin không mang tính cá nhân, thường được các nhà tài trợ quảng cáo chi trả và thường có sức thuyết phục tự nhiên về các sản phẩm, dịch vụ hoặc ý kiến thông qua nhiều phương tiện truyền thông đại chúng”. 4 Theo Luật Quảng cáo Canada (The Canada Code of Avertising Standards) định nghĩa: “Quảng cáo là thông điệp (một nội dung được kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp của người quảng cáo) được thể hiện thông qua ngôn ngữ và thông tin được truyền 3 Lê Huy Lâm và Phan Văn Thuận, 2004.
Học và sử dụng tiếng Anh trong lĩnh vực quảng cáo thương mại. Nhà xuất bản Tổng hợp TP.Hồ Chí Minh, trang. 4 Lê Huy Lâm và Phan Văn Thuận, 2004. Học và sử dụng tiếng Anh trong lĩnh vực quảng cáo thương mại.
Nhà xuất bản Tổng hợp TP.Hồ Chí Minh, trang. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 đạt trong môi trường bất kỳ tới công dân Canada nhằm ảnh hưởng đến sự lựa chọn, quan điểm hoặc hành vi của họ”.5 Theo Luật Quảng cáo của Trung Quốc ban hành ngày 27/10/1994 (có hiệu lực từ ngày 01/02/1995) định nghĩa: “Quảng cáo quy định trong Luật này quy định cho quảng cáo thương mại, theo đó, người sản xuất hàng hóa hoặc người kinh doanh trung gian hoặc người cung cấp dịch vụ trả tiền để thông qua các phương tiện truyền thông hoặc những hình thức khác trực tiếp hoặc gián tiếp để giới thiệu hàng hóa hoặc dịch vụ của mình”.6 Theo Pháp luật Việt Nam hiện nay, khái niệm “Quảng cáo” có trong hai văn bản là Luật Thương mại năm 2005 (LTM 2005) và Luật Quảng cáo năm 2012 (LQC 2012): (1) Tại Điều 102 LTM 2005 có đưa ra khái niệm trong hoạt động quảng cáo thương mại: “Quảng cáo thương mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân để giới thiệu với khách hàng về hoạt động kinh doanh hàng hoá, dịch vụ của mình”. khái niệm quảng cáo ở đây được gắn liền với tính chất thương mại và được gọi với thuật ngữ pháp lý “quảng cáo thương mại”.7 Định nghĩa này khá tương đồng với Luật Quảng cáo Trung Quốc; (2) Tại khoản 1 Điều 2 LQC 2012 có khái niệm: “Quảng cáo là việc sử dụng các phương tiện nhằm giới thiệu đến công chúng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ có mục đích sinh lợi; sản phẩm, dịch vụ không có mục đích sinh lợi; tổ 5 Nguồn: The Canadian Code of Advertising Standards, 1963. [Online] Available at: https://adstandards.ca/code/the-code-online/ [Accessed 2 December 2019].
6 Nguồn: Ministry of Commerce People’S Republic of China, 1995. Advertising Law of the People'S Republic of China. [Online] Available at: http://english.cn/aarticle/lawsdata/chineselaw/200211/20021100053452. 7 Xem: Điều 102 Luật Thương mại năm 2005.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 chức, cá nhân kinh doanh sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ được giới thiệu, trừ tin thời sự; chính sách xã hội; thông tin cá nhân”.8 Như vậy, pháp luật Việt Nam thừa nhận sự tồn tại của hai hình thức quảng cáo không có mục đích sinh lời hay còn gọi là “quảng cáo phi thương mại” (quảng cáo chính phủ, quảng cáo chính trị, quảng cáo bầu cử…) và quảng cáo có mục đích sinh lời, còn được gọi là “quảng cáo thương mại”. Qua đó, quảng cáo với nghĩa rộng bao gồm cả quảng cáo thương mại và quảng cáo phi thương mại. Quảng cáo với nghĩa hẹp chỉ riêng quảng cáo thương mại là loại hình chủ yếu của quảng cáo, gắn với bản chất thương mại của quảng cáo ngày càng được thể hiện và phát triển rõ hơn trong nền kinh tế xã hội hiện đại. Tóm lại, quảng cáo thương mại là hoạt động nhằm giới thiệu hàng hóa, dịch vụ đến khách hàng để xúc tiến, tạo cơ hội mua bán hàng hóa, dịch vụ của thương nhân với mục đích sinh lợi.
Đặc điểm của quảng cáo Từ định nghĩa được quy định tại LTM 2005, quảng cáo thương mại có những đặc điểm sau: Thứ nhất, chủ thể hoạt động quảng cáo thương mại là thương nhân. Với tư cách là người kinh doanh, thương nhân thực hiện quảng cáo thương mại để hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh của mình hoặc thực hiện dịch vụ quảng cáo cho thương nhân khác. Đây là đặc điểm khác biệt của quảng cáo thương mại đối với các hoạt động thông tin, cổ động do cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức xã hội… thực hiện nhằm tuyên truyền về đường lối, chủ trương, chính sách kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước. Tại khoản 1 Điều 6 LTM 2005 quy định “Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường 8 Xem: Điều 2 Luật Quảng cáo năm 2012.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 xuyên và có đăng ký kinh doanh”.9 Như vậy, tại quy định này chủ thể của quảng cáo thương mại tương đối hẹp vì không phải tất cả tổ chức, cá nhân nào hoạt động thương mại đều thực hiện đăng ký kinh doanh, trên thực tế có nhiều quảng cáo mang tính chất thương mại do tổ chức, cá nhân không có đăng ký kinh doanh thực hiện. Tại Điều 102 LTM 2005 định nghĩa: “Thương nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo không phải là chủ thể của quảng cáo thương mại vì chỉ những thương nhân có mục đích để giới thiệu với khách hàng về hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ của mình mới là chủ thể quảng cáo thương mại. Đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo thương mại được xem là chủ thể trung gian kinh doanh dịch vụ quảng cáo hàng hóa, dịch vụ cho thương nhân khác, trừ trường hợp các thương nhân này tự mình hoặc thuê thương nhân khác quảng cáo cho dịch vụ quảng cáo của họ”.10 Thứ hai, về tổ chức thực hiện. Thương nhân có thể tự mình thực hiện các công việc cần thiết để quảng cáo hoặc thuê dịch vụ quảng cáo của thương nhân khác thông qua các hợp đồng dịch vụ.
Do quảng cáo có tác động rất lớn đến hoạt động bán hàng, cung ứng dịch vụ nên thương nhân sử dụng quảng cáo để khuếch trương hàng hóa dịch vụ của mình tăng cường cơ hội thương mại và thu lợi nhuận. Trong nền kinh tế thị trường, dịch vụ quảng cáo được pháp luật thừa nhận là một loại dịch vụ thương mại mà thông qua phí dịch vụ, thương nhân thu được lợi nhuận một cách trực tiếp. Trong trường hợp tự mình quảng cáo không đạt được hiệu quả mong muốn, thương nhân có quyền thuê thương nhân khác thực hiện quảng cáo cho mình và phải chịu chi phí dịch vụ vì việc đó. Thứ ba, cách thức xúc tiến thương mại.
Tại khoản 10 Điều 3 LTM 2005 định nghĩa “Xúc tiến thương mại là hoạt động thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội mua bán hàng 9 Xem: Khoản 1 Điều 6 Luật Thương mại năm 2005. 10 Xem: Điều 102 Luật Thương mại năm 2005. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 hoá và cung ứng dịch vụ, bao gồm hoạt động khuyến mại, quảng cáo thương mại, trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ và hội chợ, triển lãm thương mại”.11 Như vậy, quảng cáo thương mại là hoạt động thương mại và là một trong những hoạt động xúc tiến thương mại. Quảng cáo thương mại được thương nhân sử dụng làm phương tiện để truyền tải thông tin về hàng hóa, dịch vụ đến khách hàng nhằm tạo sự chú ý, thuyết phục khách hàng quyết định mua sản phẩm của mình.
Có thể nói, xúc tiến thương mại là một trong những hoạt động thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội mua bán hàng hóa, dịch vụ. Thứ tư, mục đích trực tiếp của quảng cáo thương mại là giới thiệu với khách hàng về hàng hóa, dịch vụ để xúc tiến thương mại, đáp ứng nhu cầu cạnh tranh và mục tiêu lợi nhuận của thương nhân. Khách hàng ở đây bao gồm khách hàng hiện tại và khách hàng tiềm năng của thương nhân. Thương nhân thông qua quảng cáo giới thiệu hay nhắc nhở khách hàng hiện tại về một loại hàng hóa, dịch vụ mới, tính ưu việt về chất lượng, giá cả, khả năng đáp ứng nhu cầu sử dụng… cũng như mục đích nhắm đến việc thuyết phục khách hàng tiềm năng để mở rộng thị phần.
Từ đó, thương nhân có thể tạo sự nhận biết và kiến thức về hàng hóa, dịch vụ, có thể thu hút khách hàng đang sử dụng hàng hóa, dịch vụ của công ty khác thông qua việc nhấn mạnh đặc điểm và lợi ích của một nhãn hiệu cụ thể hoặc thông qua việc so sánh tính ưu việt của sản phẩm với các sản phẩm cùng loại. Có thể nói đây là những lợi thế mà thương nhân có thể khai thác vì nó có ý nghĩa rất lớn trong việc định hướng nhu cầu tiêu dùng xã hội bao gồm nhu cầu tiêu dùng cá nhân và sản xuất. Các đặc điểm trên đây là cơ sở để phân biệt quảng cáo thương mại với các hoạt động không phải quảng cáo thương mại như: Hoạt động thông tin truyên truyền, cổ động mang tính chính trị, xã hội do cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức xã 11 Xem: Khoản 10 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 hội thực hiện, hoạt động thông tin của các tổ chức cá nhân không nhằm mục đích kinh doanh.
Tuy nhiên, trên thực tế có nhiều quảng cao nhằm mục đích sinh lợi nhưng không được xem là quảng cáo thương mại, bởi chúng không thỏa mãn các đặc điểm của quảng cáo thương mại được quy định trong LTM 2005. Chẳng hạn, quảng cáo về doanh nghiệp, hộ kinh doanh như: tên, biểu tượng, địa chỉ, ngành kinh doanh của doanh nghiệp, hộ kinh doanh và những thông tin giới thiệu khác mà không phải giới thiệu về hàng hóa, dịch vụ. Từ những thông tin này mà khách hàng biết và mua hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp.