CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP 1.1 Khái quát về giải thể doanh nghiệp 1.1 Khái niệm giải thể doanh nghiệp Trong quá trình kinh doanh, doanh nghiệp có thể đối mặt với những khó khăn mà đôi khi buộc họ phải tạm dừng sản xuất kinh doanh hoặc thậm chí đối diện với việc chấm dứt sự tồn tại của mình. Có hai lựa chọn tối ưu mà doanh nghiệp có thể xem xét: một là tạm thời ngừng hoạt động sản xuất kinh doanh để giải quyết các khó khăn, đợi đến khi thị trường ổn định trở lại trước khi tiếp tục hoạt động, hai là trong trường hợp không thể tiếp tục kinh doanh, doanh nghiệp có thể quyết định rút lui khỏi thị trường. Giải thể doanh nghiệp đại diện cho một hình thức chấm dứt sự tồn tại vĩnh viễn của nó. Thông thường, doanh nghiệp bị giải thể khi hoạt động kinh doanh đã đạt được các mục tiêu tài chính đã đề ra hoặc khi bị yêu cầu bởi các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền do vi phạm quy định pháp luật.
Tuy nhiên, trong thực tế, nhiều doanh nghiệp bị giải thể do gặp phải khó khăn mà không thể tiếp tục sản xuất kinh doanh, và họ buộc phải lựa chọn giải thể. Theo từ điển Tiếng Việt, “Giải thể có nghĩa là không còn hoặc làm cho không còn đủ điều kiện tồn tại như một tổ chức nữa, các thành viên phân tán đi”1. Đây là ý nghĩa cơ bản của giải thể, đề cập đến việc chấm dứt hoặc làm cho một tổ chức, doanh nghiệp, hoặc tổ chức nào đó không còn tồn tại hoặc không đủ điều kiện tồn tại nữa. Khi một tổ chức giải thể, thông thường nghĩa là nó ngừng hoạt động và các thành viên hoặc tài sản của tổ chức này được phân tán hoặc xử lý theo cách cụ thể tùy thuộc vào quy tắc và luật pháp áp dụng.
Từ điển Luật học của Viện khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp) định nghĩa rằng: “Giải thể doanh nghiệp là thủ tục chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp với tư cách là một chủ thể kinh doanh bằng cách thanh lý tài sản của doanh nghiệp đã trả nợ cho các chủ nợ”2. Đây là quy trình mà doanh nghiệp chấm dứt sự tồn tại của mình dưới tư cách một đơn vị kinh doanh. Trong quá trình này, doanh nghiệp thực hiện 1 Theo từ điển Tiếng Việt 2 Theo từ điển Luật học của Viện khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp) 7 bán hoặc thanh lý tài sản của mình để trả nợ cho các chủ nợ. Mục tiêu của quy trình giải thể là để đảm bảo rằng các khoản nợ phải được thanh toán và tài sản của doanh nghiệp được xử lý một cách hợp pháp và công bằng khi doanh nghiệp dừng hoạt động.
Giáo trình Luật thương mại Việt Nam, Tập 1 - Trường đại học Luật Hà Nội định nghĩa: “ Giải thể doanh nghiệp là quá trình chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp trong điều kiện doanh nghiệp có khả năng thanh toán hoặc bảo đảm thanh toán các nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp3”. Điều này nghĩa là doanh nghiệp không còn hoạt động nữa và sẽ ngừng tồn tại trong tương lai. Có nhiều nguyên nhân có thể dẫn đến quá trình này chẳng hạn như không thể duy trì hoạt động kinh doanh lâu dài hoặc do quyết định của chủ sở hữu hoặc vì các vấn đề pháp lý. Định nghĩa này cũng đề cập đến tình trạng tài chính của doanh nghiệp tại thời điểm giải thể.
Điều kiện để doanh nghiệp giải thể đó là doanh nghiệp hoặc chủ doanh nghiệp vẫn còn đủ khả năng thanh toán hết các nghĩa vụ tài sản của mình, tức là doanh nghiệp hoặc chủ doanh nghiệp có thể trả nợ, thanh toán hết các khoản nợ cho các bên chủ nợ, và bảo đảm rằng các đối tượng liên quan sẽ không bị thiệt hại về tài chính trong quá trình giải thể. Như vậy có thể hiểu: Giải thể doanh nghiệp là quá trình chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp với điều kiện doanh nghiệp đó có khả năng thanh toán hoặc bảo đảm thanh toán các nghĩa vụ tài sản của mình. Giải thể doanh nghiệp, một quá trình phức tạp và quan trọng trong lĩnh vực kinh doanh và luật pháp doanh nghiệp, đồng nghĩa với việc chấm dứt sự tồn tại của một tổ chức doanh nghiệp. Tuy nhiên, quá trình này không chỉ đơn thuần là việc ngừng hoạt động mà còn đòi hỏi sự tuân thủ các quy định pháp lý và thỏa thuận giữa các bên liên quan và đảm bảo rằng quá trình diễn ra một cách công bằng, minh bạch, bảo vệ quyền lợi của tất cả các bên tham gia.
Về nguyên tắc, quyền quyết định việc giải thể doanh nghiệp thuộc về các chủ sở hữu của doanh nghiệp, bởi họ là những người đã tự nguyện góp vốn để thành lập doanh nghiệp và do đó, họ cũng có quyền tự thỏa thuận về việc giải thể này. Trong trường hợp nhất định, các chủ sở hữu thường cùng nhau bàn bạc, thỏa thuận và 3 Giáo trình Luật thương mại Việt Nam, Tập 1-Trường đại học Luật Hà Nội 8 thống nhất về quyết định giải thể doanh nghiệp. Tuy nhiên, cũng có trường hợp mà doanh nghiệp phải chấm dứt sự tồn tại của mình theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền, thông qua hình thức giải thể. Điều này xảy ra khi doanh nghiệp rơi vào các trường hợp đặc biệt được quy định bởi pháp luật.
Trong những tình huống này, cơ quan Nhà nước yêu cầu chủ sở hữu doanh nghiệp phải ra quyết định giải thể, dù ý chí của chủ doanh nghiệp như thế nào. Nguyên nhân có thể là vi phạm các quy định pháp luật, không thể duy trì hoạt động kinh doanh hoặc các lý do khác theo quy định của luật. Quá trình giải thể doanh nghiệp không chỉ đánh dấu sự kết thúc của một doanh nghiệp hay một tổ chức mà nó còn là một quy trình pháp lý đòi hỏi sự hiểu biết sâu rộng về các quy định và quy trình giải thể doanh nghiệp. Pháp luật giải thể doanh nghiệp sẽ giúp đảm bảo rằng quá trình này diễn ra một cách công bằng và minh bạch, bảo vệ quyền lợi của cả doanh nghiệp và các bên liên quan, và góp phần thúc đẩy sự ổn định của môi trường kinh doanh.2 Đặc điểm của hoạt động giải thể doanh nghiệp Về bản chất: giải thể doanh nghiệp là một quá trình với những hoạt động nhằm chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp, để doanh nghiệp rút khỏi thị trường.
Đây là quá trình diễn ra với các hoạt động: hoạt động kinh tế (thanh lí tài sản, thanh toán nợ) và hoạt động pháp lý (thủ tục hành chính để “xóa tên” doanh nghiệp tại cơ quan đăng kí kinh doanh). Đối với các trường hợp giải thể bắt buộc, chủ sở hữu doanh nghiệp buộc phải quyết định giải thể doanh nghiệp trên cơ sở quyết định đình chỉ hoạt động, thu hồi Giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp của cơ quan có thẩm quyền hay quyết định của Tòa án. Về lý do giải thể: Lý do dẫn đến quá trình giải thể doanh nghiệp rất đa dạng, có thể xuất phát từ nhiều nguồn khác nhau và thể hiện sự phản ánh của một loạt các tình huống và quyết định kinh doanh. Một trong những lý do phổ biến nhất cho việc giải thể doanh nghiệp là khi nhà đầu tư hoặc chủ sở hữu không còn nhu cầu hoặc khả năng tiếp tục kinh doanh (ý chí tự nguyện của chủ doanh nghiệp).
Điều này có thể do nhiều yếu tố, bao gồm sự thay đổi trong chiến lược kinh doanh, sự kém hiệu quả hoạt động, hoặc thậm chí là mục tiêu cá nhân của chủ sở hữu. Trong trường hợp này, quá trình giải thể 9 thường đi kèm với việc phân phối tài sản và nguồn lực của doanh nghiệp cho các bên liên quan, và có thể dẫn đến việc giải quyết các vấn đề liên quan đến nhân sự, thuế, và các nghĩa vụ tài chính khác. Ngoài ra, một lý do khác thường gây ra việc giải thể là khi doanh nghiệp đối diện với tình trạng kinh doanh bị tổn thất mà chưa đạt mức độ khả năng thanh toán nợ đến hạn. Điều này có thể bao gồm nợ vay, nợ cung ứng hoặc các khoản nợ khác.
Trong tình huống này, quá trình giải thể thường được sử dụng để xác định cách thanh toán các nợ này một cách công bằng và minh bạch, đồng thời đảm bảo rằng các đối tượng liên quan không bị thiệt hại nặng nề. Ngoài các lý do tự nguyện của chủ doanh nghiệp, có thể xuất phát từ trường hợp doanh nghiệp vi phạm pháp luật cùng với việc bị áp dụng chế tài đình chỉ hoạt động và rút giấy phép sẽ dẫn tới trường hợp giải thể bắt buộc. Ví dụ, khi doanh nghiệp vi phạm các quy định pháp luật hoặc không tuân thủ các điều kiện của giấy phép hoạt động như: vi phạm các quy định về thuế, môi trường, an toàn lao động, khai man hồ sơ đăng kí doanh nghiệp, kinh doanh trái phép, số lượng thành viên thấp hơn mức tối thiểu được quy định bởi luật mà không có hành động khắc phục trong thời gian luật định,… thì cơ quan có thẩm quyền sẽ ra yêu cầu bắt buộc giải thể doanh nghiệp với các doanh nghiệp này. Về điều kiện giải thể: Doanh nghiệp chỉ thực hiện thủ tục giải thể để rút khỏi thị trường khi bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ, thực hiện xong các nghĩa vụ tài sản.
Nếu mất khả năng thanh toán nợ, doanh nghiệp thuộc trường hợp áp dụng pháp luật phá sản để chấm dứt hoạt động. Như vậy, có thể nói khả năng thanh toán của doanh nghiệp là yếu tố quyết định việc doanh nghiệp rút khỏi thị trường thông qua thủ tục giải thể hay phá sản. Chủ thể quyết định việc giải thể: Chủ sở hữu doanh nghiệp là người quyết định việc giải thể doanh nghiệp. Cơ quan đăng ký kinh doanh không có thẩm quyền đồng ý hay phản đối việc giải thể mà chỉ xem xét tính hợp lệ của hồ sơ giải thể và khi không có khiếu nại về việc giải thể thì sẽ quyết định cập nhật tình trạng “đã giải thể” của doanh nghiệp trên cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp (trước đây gọi là chấp thuận hồ sơ giải thể và xoá tên doanh nghiệp trong Sổ đăng ký kinh doanh).
10 Đối với các trường hợp giải thể bắt buộc, chủ sở hữu doanh nghiệp buộc phải quyết định giải thể doanh nghiệp trên cơ sở quyết định đình chỉ hoạt động, thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của cơ quan có thẩm quyền hay quyết định của Toà án.