mở đầu bằng câu: "Khoán lệ của một làng cũng như luật lệ của một nước"; hương ước làng Phú Vân (Yên Thành, Nghệ An) năm 1854 quy định: "Thôn làng đương nhiên phải có hương ước"; hương ước làng An Hòa, tổng An Hạ, huyện Hoàn Long, tỉnh Hà Đông khẳng định: "Trong làng có khoán ước cũng như Nhà nước có luật lệ". Quy định của các bản hương ước này không chỉ đề cập đến các vấn đề như: lễ giáo, tục ma chay, cưới hỏi, phép tắc cư xử. mà còn đề cập tới nhiều vấn đề pháp luật điều chỉnh như: thông dâm, trộm cắp tài sản, đánh lộn. Có thể nói, hương ước chính là một loại "pháp luật" của thôn làng.
Hệ thống "pháp luật" này không hề mâu thuẫn với hệ thống pháp luật do Nhà nước ban hành vì "hương ước tuy có nguồn gốc khác với pháp luật Nhà nước nhưng không phải là pháp luật của những địa phương cát cứ, có xu hướng ly khai với chính quyền Trung ương" [59, tr. Giữa hương ước và pháp luật không hề xung đột, mâu thuẫn, phủ định, loại bỏ nhau mà trái lại còn bổ sung cho nhau, hỗ trợ cho nhau một cách tốt nhất để xã hội luôn được duy trì trong trạng thái ổn định, phát triển. Hương ước được đặt ra không nằm ngoài mục đích giúp cho cuộc sống từng đơn vị dân cư đi vào nề nếp, có tổ chức, có trật tự kỷ cương để duy trì, chỉnh đốn, xây dựng phong tục tốt đẹp, phong cách sống có đạo đức của người dân trong từng thôn làng. Sự thống nhất về mục 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đích ban hành đó là cầu nối giúp hương ước của làng xã luôn tồn tại một cách bền vững bên cạnh hệ thống pháp luật ngày càng được củng cố chặt chẽ của Nhà nước.
Hương ước là hình thức "văn bản hóa" các tục lệ, phong tục, tập quán của mỗi vùng, miền cụ thể. Phần lớn nội dung của các bản hương ước đều quy định các vấn đề về tục lệ, phong tục tập quán, tập tục sinh hoạt của cộng đồng dân cư như: nghi thức ma chay, cưới hỏi, lễ hội. Đồng thời, nội dung của hương ước còn chứa đựng những chuẩn mực đạo đức nhằm hướng dẫn hành vi cá nhân và tạo dư luận xã hội để điều chỉnh những hành vi đó. Ví dụ: các quy định về trách nhiệm tôn kính người cao tuổi, phụng dưỡng cha mẹ già, giúp đỡ người có hoàn cảnh khó khăn, lên án tệ cờ bạc, ngăn ngừa quan hệ bất chính.
Với những đặc điểm nêu trên, hương ước giữ vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống làng xã: Hương ước trực tiếp kiểm soát thế ứng xử của các thành viên trong cộng đồng, tạo ra sự ràng buộc, áp đặt và cưỡng chế của cộng đồng làng xã; Hương ước là sợi dây nối liền các tổ chức và cá nhân trong cộng đồng trong những nghĩa vụ và quyền lợi chung, là công cụ điều chỉnh các mối quan hệ xã hội trong cộng đồng làng xã, công cụ để quản lý làng xã, một tri thức dân gian về quản lý cộng đồng. Hương ước góp phần hình thành trong mỗi làng xã và mỗi người dân ở đó những đức tính truyền thống giá trị và quý báu như: truyền thống đoàn kết và cố kết làng xã, tinh thần chung lưng đấu cật, quan tâm các công việc công ích, tích cực đóng góp xây dựng làng xã, hoàn thành đầy đủ các nghĩa vụ với làng, với nước, chủ động bảo vệ an ninh, thực hiện tốt vai trò tự quản, góp phần làm phong phú lối sống văn hóa làng xã. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay, có những giai đoạn vai trò và giá trị của hương ước bị ngủ quên và còn lại rất ít vì nhiều nguyên nhân khác nhau, chủ yếu là do những nhận thức, định kiến sai lệch về giá trị văn 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hóa của chế độ cũ. Tuy nhiên, từ khi cơ chế khoán 10 (1989) được áp dụng thì những giá trị tích cực của hộ gia đình và thôn làng được nhìn nhận như một động lực để phát triển kinh tế - xã hội.
Trên cơ sở những tri thức về hương ước cổ, nhiều thôn làng đã lập nên quy ước làng như một công cụ đắc lực để quản lý thôn làng tạo nên hiện tượng tái lập hương ước trong tình hình mới. Thực tế đã kiểm nghiệm và chứng minh sức sống mạnh mẽ của các bản hương ước, quy ước trong nhiều giai đoạn lịch sử như một biểu hiện đặc sắc của nền văn hóa Việt Nam, đặc biệt có giá trị trong công tác tự quản làng xã. Vì vậy, để tạo sự thống nhất trong việc xây dựng và thực hiện hương ước mới, Thông tư số 03/2000/TTLT/BTP-BVHTT-BTTUBMTTQVN ngày 31/03/2000 của Bộ Tư pháp, Bộ Văn hóa thông tin, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được ban hành, trong đó quy định: Hương ước là văn bản quy phạm xã hội trong đó quy định các quy tắc xử sự chung do cộng đồng dân cư cùng thỏa thuận đặt ra để điều chỉnh các quan hệ xã hội mang tính tự quản của nhân dân nhằm giữ gìn và phát huy những phong tục, tập quán tốt đẹp và truyền thống văn hóa trên địa bàn làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư, góp phần hỗ trợ tích cực cho việc quản lý nhà nước bằng pháp luật. Theo quy định trên đây, có thể hiểu hương ước là kết ước của người dân, được thể hiện dưới hình thức văn bản với nhiều tên gọi khác nhau như: hương ước, quy ước làng, quy chế.
Hương ước do cộng đồng dân cư cùng nhất trí, thỏa thuận đặt ra và cùng cam kết thực hiện. Bất cứ quy định nào khác của cá nhân, cơ quan tổ chức đặt ra đều không phải là hương ước, không phù hợp với những đặc điểm của hương ước. Mặt khác, hương ước là một loại văn bản quy phạm nên nó cũng chứa đựng những quy định bắt buộc hoặc cho phép mọi người được làm hoặc không được làm những việc nhất định trong sinh hoạt cộng đồng. Tuy nhiên, vì là quy phạm xã hội do cộng đồng dân cư cùng thống nhất thỏa thuận đặt ra nên tính chất của nó cũng khác hẳn so với quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành mặc dù các quy định trong hương ước phải phù hợp và không được trái với các quy định của pháp luật.
20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Xét về quan niệm chung, các bản hương ước mới ngày nay không khác nhiều so với các bản hương ước cổ. Nhưng khi đi vào xem xét cụ thể vị trí, vai trò, phạm vi tác động, nội dung điều chỉnh thì giữa hương ước mới và hương ước cổ có rất nhiều sự khác biệt. Hầu hết các bản hương ước cổ đều chú trọng điều chỉnh các vấn đề liên quan đến tổ chức làng xã với các thiết chế tự quản như: Hội đồng kỳ mục (cơ quan có quyền tối cao đối với các mặt sinh hoạt làng xã), Hội đồng lý dịch (đại diện cho Nhà nước phong kiến chịu trách nhiệm trước Nhà nước về mặt dân đinh), Giáp (đơn vị quản lý nhân đinh, phân bổ việc biện lễ, tế lễ, sưu thuế. Hương ước mới lại không quan tâm nhiều tới các thiết chế tự quản mà theo hướng dẫn chung nên thường đề ra các biện pháp, phương thức thích hợp giúp nhân dân trên địa bàn tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, đảm bảo các quyền và nghĩa vụ hợp pháp để công dân tuân thủ pháp luật và phát huy các quyền làm chủ cũng như trách nhiệm công dân.
Nếu như hương ước cổ tồn tại trên nền tảng của một đơn vị hành chính, bản thân nó chính là bản điều lệ hoạt động của thiết chế chính quyền tự quản làng xã, mang sắc thái của cưỡng chế Nhà nước với các quy định chi tiết, cụ thể về bảo vệ làng xóm thì hương ước mới thiếu tính cưỡng chế và chỉ tập trung đưa ra các biện pháp cụ thể để bảo vệ trật tự trị an trên địa bàn, góp phần phòng chống các tệ nạn xã hội cũng như các hành vi vi phạm pháp luật khác. Ngoài ra, hương ước cổ và hương ước mới còn có sự khác biệt ở nhiều khía cạnh như: trình tự xây dựng, sửa đổi và thực hiện; các biện pháp bảo đảm thực hiện như cơ chế thưởng phạt. Như vậy, có thể nói ở mỗi góc độ khác nhau, mỗi thời kỳ khác nhau thì các công cụ quản lý xã hội đều tự mình có những giá trị khác nhau, phát huy hiệu quả khác nhau, có những mặt nổi trội, hạn chế khác nhau. Pháp luật và hương ước cũng vậy, tuy nhiên không vì thế mà chúng mâu thuẫn, cản trở nhau mà trái lại còn có có mối liên hệ mật thiết, hỗ trợ, bổ sung và ảnh hưởng lẫn nhau trong quá trình cùng làm cho xã hội được thiết lập theo một trật tự 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ngày càng ổn định, phát triển, đạt hiệu quả quản lý cao nhất của những người làm chủ, làm chủ cộng đồng, làm chủ đất nước.
Nội dung của pháp luật tập trung vào việc tạo lập những quy tắc xử sự chung, những chuẩn mực pháp lý chung dựa trên những khuôn mẫu, mực thước mà theo ý chí của những nhà làm luật cho rằng đó là ý chí, nguyện vọng của đại đa số quần chúng trong xã hội, buộc tất cả các đối tượng tham gia vào các quan hệ xã hội do pháp luật điều chỉnh phải tuân thủ theo một cách chủ động hoặc khiên cưỡng. Ngược lại, nội dung của hương ước lại đi vào những quy định rất cụ thể, rất chi tiết trên cơ sở đúc rút từ những hệ quả phát sinh trong quan hệ đời thường và sinh hoạt cộng đồng làng xã, được các thành viên trong cộng đồng thừa nhận, cam kết thực hiện. Tuy nhiên, không vì thế mà pháp luật và hương ước hoàn toàn khác biệt và mâu thuẫn nhau, trái lại còn bổ sung cho nhau được hoàn chỉnh hơn, đầy đủ hơn. Pháp luật quy định những khuôn khổ chung còn hương ước cụ thể hóa những quy định đó vào thực tiễn đời sống phong phú, phù hợp với những quy định của pháp luật.
Có thể nói hương ước chính là hình thức thực hiện pháp luật một cách sáng tạo và hiệu quả, đưa những quy định khô khan chung chung của pháp luật vào những dẫn chứng sống động của đời thường.