Chương 1: Một số vấn đề chung về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và luật áp dụng trong các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. - Chương 2: Luật áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo pháp luật Việt Nam trong tương quan so sánh với pháp luật quốc tế và pháp luật nước ngoài. - Chương 3: Thực trạng áp dụng pháp luật trong các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và đề xuất hoàn thiện ở Việt Nam. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HOÁ QUỐC TẾ VÀ LUẬT ÁP DỤNG TRONG CÁC HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HOÁ QUỐC TẾ 1.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HOÁ QUỐC TẾ 1. Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế 1. Khái niệm hợp đồng Trên thế giới hiện nay có nhiều cách quan niệm khác nhau về khái niệm hợp đồng: Theo pháp luật Hoa Kỳ, hợp đồng là một thỏa thuận giữa hai hoặc nhiều người mà theo đó hình thành nên một nghĩa vụ phải làm hoặc không được làm một việc cụ thể [62, tr. Theo pháp luật của Pháp, hợp đồng là sự thỏa thuận theo đó một hoặc nhiều người cam kết với một hoặc nhiều người khác chuyển giao một vật, làm hoặc không làm một việc nào đó (Điều 1101 Bộ luật Dân sự Pháp) [32, tr.
Pháp luật của Trung Quốc quy định: “hợp đồng là sự thỏa thuận nhằm thiết lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự giữa các chủ thể là thể nhân, pháp nhân hoặc các tổ chức khác trên cơ sở công bằng” (Điều 2 Luật Hợp đồng Trung Quốc năm 1999) [53]. Pháp luật Liên bang Nga quy định: “hợp đồng là sự thỏa thuận giữa hai hoặc nhiều người nhằm thiết lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự” (Khoản 1 Điều 420 Bộ luật Dân sự Liên bang Nga) [63] 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ở Việt Nam, theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005, hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ (Điều 388) [5]. Như vậy, mặc dù được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, nhưng pháp luật các nước đều quan niệm chung về hợp đồng, đó là sự thỏa thuận giữa các bên về việc thực hiện một việc, một nghĩa vụ nào đó. Nghĩa vụ hợp đồng có thể phát sinh đối với một bên (hợp đồng đơn vụ) hoặc giữa các bên với nhau (hợp đồng song vụ).
Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa Về khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa, pháp luật các nước trên thế giới có những cách tiếp cận không hoàn toàn không giống nhau: Theo pháp luật của Pháp, hợp đồng mua bán là một thỏa thuận theo đó một bên có nghĩa vụ giao một vật và người kia có nghĩa vụ trả tiền cho vật ấy. Việc mua bán được hoàn thành khi quyền sở hữu vật được coi là đã chuyển sang cho người mua sau khi đã thỏa thuận về vật bán và giá cả, tuy rằng vật chưa được giao và tiền chưa được trả. Việc mua bán có thể được tiến hành không kèm theo điều kiện hoặc kèm theo điều kiện đình chỉ thi hành hoặc điều kiện hủy bỏ (Điều 1582, Điều 1583 và Điều 1584 Bộ luật Dân sự Pháp) [32, tr. Theo pháp luật của Anh, hợp đồng mua bán hàng hóa là hợp đồng theo đó người bán chuyển giao hoặc đồng ý chuyển giao quyền sở hữu hàng cho người mua và đổi lại số tiền thỏa đáng (Khoản 1 Điều 2 Luật Mua bán Hàng hóa năm 1979) [35, tr.
Pháp luật Hoa Kỳ khẳng định: hợp đồng mua bán hàng hoá được xác định là một hợp đồng mà theo đó bên bán thực hiện một nghĩa vụ đối với bên 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mua để giải phóng một vật, với tư cách là người chủ sở hữu, với một giá tiền nhất định và bên mua có nghĩa vụ trả tiền [62, tr. Pháp luật Trung Quốc quy định: “hợp đồng mua bán hàng hóa là một hợp đồng theo đó người bán chuyển giao quyền sở hữu một vật cho người mua và người mua trả tiền cho vật đó” (Điều 130 Luật Hợp đồng Trung Quốc năm 1999). Pháp luật Liên bang Nga quy định: “Bằng hợp đồng mua bán, một bên (bên bán) sẽ thực hiện việc chuyển giao quyền sở hữu một vật (hàng hóa) cho bên kia (bên mua), trong khi đó bên mua sẽ chấp nhận hàng hóa này và trả một khoản tiền nhất định (giá) cho hàng hóa đó” (Khoản 1 Điều 454 Bộ luật Dân sự Liên bang Nga). Ở Việt Nam, mua bán hàng hóa được hiểu là một hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thỏa thuận (Khoản 8 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005) [25].
Việc mua bán hàng hóa được thực hiện trên cơ sở hợp đồng. Có thể thấy, ở Việt Nam, hợp đồng mua bán hàng hóa cũng được hiểu là thỏa thuận giữa các bên mà theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua, còn bên mua có nghĩa vụ nhận hàng, nhận quyền sở hữu hàng và trả tiền cho bên bán. Cách hiểu này cũng phù hợp với quy định tại Điều 428 Bộ luật Dân sự năm 2005 về hợp đồng mua bán tài sản. Như vậy, mặc dù được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau nhưng pháp luật các nước đều có một số điểm chung trong cách hiểu về hợp đồng mua bán hàng hóa như sau: 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thứ nhất, đó phải là một giao kết hay thỏa thuận giữa các bên.
Hợp đồng hay thỏa thuận giữa các bên chỉ có giá trị khi thể hiện đúng ý chí của các bên khi giao kết. Sự thỏa thuận đó sẽ không có giá trị nếu đạt được do bị nhầm lẫn, bị đe dọa hoặc bị lừa dối (Điều 131 và Điều 132 Bộ luật Dân sự năm 2005, Điều 1109 Bộ luật Dân sự Pháp). Sự thỏa thuận đạt được do bị nhầm lẫn có thể trở nên vô hiệu khi đó là nhầm lẫn về nội dung của giao dịch hay nhầm lẫn về đối tượng của hợp đồng. Tuy nhiên, sự nhầm lẫn đó sẽ không là căn cứ làm cho hợp đồng vô hiệu nếu là nhầm lẫn về chủ thể giao kết, trừ trường hợp người giao kết không có đủ năng lực giao kết hợp đồng (Điều 1110 Bộ luật Dân sự Pháp); nếu một bên cố ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch hay đối tượng của hợp đồng thì thỏa thuận hay giao dịch đó cũng sẽ trở nên vô hiệu (Đoạn 2 Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2005).
Sự thỏa thuận đạt được do bị đe dọa cũng có thể trở nên vô hiệu khi hành vi đó là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản. Việc đe dọa có thể hướng tới bản thân người giao kết hợp đồng hoặc hướng tới người thân của người đó như cha, mẹ, vợ, chồng, con (Đoạn 3 Điều 132 Bộ luật Dân sự năm 2005, Điều 112 và Điều 113 Bộ luật Dân sự Pháp). Sự thỏa thuận đạt được do lừa dối có thể bị vô hiệu nếu do hành vi cố ý của một bên làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó (Đoạn 2 Điều 132 Bộ luật Dân sự năm 2005). Nói một cách khác, sự lừa dối là căn cứ làm cho hợp đồng vô hiệu khi các “thủ đoạn” do một bên thực hiện mà nếu không 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com có các thủ đoạn đó thì bên kia đã không ký kết hợp đồng (Điều 1116 Bộ luật Dân sự Pháp).
Ngoài ra, những người tham gia giao kết hợp đồng phải có đủ năng lực hành vi dân sự để có thể bày tỏ được đúng ý chí của mình tại thời điểm giao kết. Theo quy định của pháp luật Việt Nam và các nước thì mọi người đều có quyền giao kết hợp đồng nếu không bị pháp luật coi là vô năng (Điều 19 Bộ luật Dân sự năm 2005, Điều 1123 Bộ luật Dân sự Pháp). Nhìn chung, pháp luật các nước đều quy định người chưa thành niên hoặc người được giám hộ không có năng lực giao kết hợp đồng. Ngoài ra, đối với những người mất năng lực hành vi dân sự do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình hoặc những người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự do nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác thì cũng bị coi là không có năng lực giao kết hợp đồng.
Khi đó, những giao kết, thỏa thuận do những người này thực hiện cũng có thể trở nên vô hiệu. Thứ hai, đối tượng của hợp đồng là hàng hóa hay vật. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005, hàng hóa bao gồm tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai và những vật gắn liền với đất đai. Việc quy định về đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa như vậy phù hợp với quy định của pháp luật về thương mại các nước.
Ví dụ: Khoản 11 Điều 201 Bộ luật Thương mại Thống nhất Hoa Kỳ (U.C) quy định: “khi mua bán, hợp đồng hoặc thỏa thuận bị giới hạn đối với những vật có liên quan đến việc mua bán tại thời điểm hiện tại hoặc trong tương lai”. Thứ ba, có việc chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa hoặc vật từ người bán sang người mua. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Sau khi giao kết hợp đồng, bên bán có nghĩa vụ giao hàng cũng như các chứng từ liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận trong hợp đồng cho bên mua; bên mua có nghĩa vụ nhận hàng và thanh toán số tiền cho bên bán như đã thỏa thuận. Việc chuyển giao quyền sở hữu đối với tài sản mua bán từ bên bán sang bên mua thường được thực hiện tại thời điểm chuyển giao tài sản (Điều 133 Luật Hợp đồng Trung Quốc năm 1999).
Tuy nhiên, đối với những tài sản mua bán mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì quyền sở hữu chỉ được chuyển giao cho bên mua kể từ thời điểm hoàn thành thủ tục đăng ký quyền sở hữu đối với tài sản đó.