Chương I Những vấn đề lý luận về pháp luật khoảng không vũ trụ 1. Pháp luật về khoảng không vũ trụ 1. Khái niệm khoảng không vũ trụ Để hiểu đúng khái niệm pháp luật về khoảng không vũ trụ trước hết phải hiểu khoảng không vũ trụ là gì? có gì khác giữa khoảng không vũ trụ và vùng trời thuộc quyền tài phán của quốc gia? Vùng trời quốc gia là khoảng không gian bao trùm lên vùng đất, vùng nước của lãnh thổ quốc gia và nằm dưới chủ quyền hoàn toàn, riêng biệt của quốc gia đó [211,1]. Vùng trời của mỗi quốc gia bị giới hạn bởi biên giới xung quanh và biên giới trên cao, tuy nhiên cho đến nay Luật quốc tế vẫn chưa quy định cụ thể về độ cao của biên giới trên cao.
Việc xác định ranh giới giữa khoảng không thuộc quyền tài phán quốc gia và khoảng không vũ trụ trong pháp luật quốc tế cũng như trong pháp luật quốc gia vẫn chưa có quy định cụ thể. Như đã nói ở trên, biên giới trên cao của vùng trời thuộc quyền tài phán quốc gia chưa được xác định, đồng thời biên giới bên trong của khoảng không vũ trụ cũng chưa được xác định, vì vậy về mặt pháp lý chưa xác định được giới hạn giữa vùng trời thuộc quyền tài phán quốc gia và khoảng không vũ trụ – chịu sự điều chỉnh của pháp luật quốc tế về khoảng không vũ trụ. Xuất phát từ thực tiễn hoạt động vũ trụ, một số quốc gia đề xuất ranh giới này nằm ở độ cao 100 km có thể chênh lệch trên dưới 10 km. Tuy nhiên, quan điểm về đường ranh giới này không được nhiều quốc gia trên thế giới ủng hộ và đến nay giới hạn giữa vùng trời thuộc quyền tài phán quốc gia và khoảng không vũ trụ vẫn bỏ ngỏ.
5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khoảng không vũ trụ theo Giáo trình Luật Quốc tế của Trường Đại học Luật Hà Nội là “khoảng không nằm ngoài khoảng không khí quyển (môi trường hoạt động của phương tiện bay hàng không) và các hành tinh” [226,1]. Định nghĩa trên về khoảng không vũ trụ đã đưa ra được cách hiểu về khoảng không vũ trụ, tuy nhiên chưa xác định ranh giới của khoảng không vũ trụ. Nhưng có thể hiểu khoảng không vũ trụ là khoảng không nằm bên trên và liền kề với vùng trời thuộc quyền tài phán của quốc gia. Hai vùng này có chế độ pháp lý rất khác nhau nên việc xác định ranh giới khoảng không vũ trụ là một yêu cầu rất cần thiết nhằm xác định cơ sở pháp lý để giải quyết các vấn đề liên quan đến chủ quyền quốc gia đối với vùng trời và giảm bớt những tranh chấp giữa các quốc gia khi thăm dò, sử dụng khoảng không vũ trụ.
Pháp luật về khoảng không vũ trụ là một ngành luật mới trong hệ thống pháp luật quốc tế và là một ngành luật độc lập với các ngành luật khác. Do mới hình thành, phát triển và là “con đẻ” của khoa học kỹ thuật tiên tiến nên luật vũ trụ đã kế thừa được những tinh hoa của nhân loại trong quá trình xây dựng hệ thống quy phạm pháp luật. Phạm vi điều chỉnh của pháp luật về khoảng không vũ trụ gồm hoạt động của các quốc gia trong khoảng không vũ trụ; trên các hành tinh; trên mặt đất; trong khoảng không gian là môi trường hoạt động của phương tiện bay hàng không có liên quan đến hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ của quốc gia đó. Khái niệm pháp luật về khoảng không vũ trụ được hình thành trước khi diễn ra công cuộc chinh phục vũ trụ, từ năm 1910 tác giả E.LAUDE người Pháp đã có bài viết trên “Tạp chí Pháp lý quốc tế về chuyển động trong không gian” trình bày những nguyên tắc cơ bản của ngành luật vũ trụ và theo ông ngành luật vũ trụ là một ngành luật độc lập với pháp luật về vùng trời [59,5].
Theo Giáo trình Luật Quốc tế của Trường Đại học Luật Hà Nội thì “Luật vũ trụ quốc tế là tổng thể các nguyên tắc, các quy phạm pháp lý quốc 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tế, điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa các chủ thể luật quốc tế trong quá trình tiến hành các hoạt động nghiên cứu, sử dụng khoảng không vũ trụ kể cả các hành tinh” [224,1]. Trong buổi Hội thảo Pháp – Việt về khoảng không vũ trụ, GS. Philippe Achilleas, Trường Đại học tổng hợp Paris XI, Pháp đã trình bày khái niệm pháp luật về khoảng không vũ trụ bao gồm “tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các hoạt động của con người tiến hành trong khoảng không vũ trụ hoặc trên các thiên thể vũ trụ, điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực thăm dò và khai thác khoảng không vũ trụ hay các thiên thể vũ trụ” [59,5]. Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về luật khoảng không vũ trụ, nhưng có thể hiểu một cách khái quát pháp luật khoảng không vũ trụ là tổng thể các quy phạm pháp luật điều các mối quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thăm dò, khai thác và sử dụng khoảng không vũ trụ, các thiên thể.
Nguồn tài nguyên vũ trụ Khi con người khai phá được khoảng không vũ trụ cũng đồng thời khai thác sử dụng nó, dưới bàn tay khối óc của nhân loại, khoảng không vũ trụ nơi mà trước đó vẫn còn mang tính huyền bí, thần thánh đã dần được con người chinh phục và sử dụng để phục vụ lại chính mình. Những lợi ích mà con người khai thác được từ khoảng không vũ trụ có thể gọi là các nguồn tài nguyên vũ trụ là rất lớn. Các nguồn tài nguyền vũ trụ được khai thác, sử dụng trên thực tế hiện nay và khá thông dụng trên thế giới là các dải tần số và các vị trí quỹ đạo. Các dải tần số và các vị trí quỹ đạo là nguồn tài nguyên vũ trụ rất quý hiếm, được coi là tài sản chung của nhân loại, được các tổ chức quốc tế của Liên hợp quốc quản lý một cách chặt chẽ, công bằng.
7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Các dải tần số vô tuyến điện là nguồn tài nguyên vũ trụ không bao giờ bị cạn kiệt, không bị tác động bởi bất kỳ điều kiện nào và không bị thoái hoá hay suy kiệt do việc sử dụng thường xuyên liên tục. Các dải tần số vô tuyến điện trải rộng trên phạm vi nhiều quốc gia và không thể truyền nhiều tín hiệu trên cùng một tần số, vì vậy vấn đề hợp tác quốc tế trong tổ chức sử dụng các dải tần số vô tuyến điện được đánh giá cao. Các vị trí quỹ đạo trong quỹ đạo địa tĩnh và quỹ đạo thấp cũng là nguồn tài nguyên vũ trụ quý hiếm và hạn chế về mặt số lượng. Các vệ tinh nhân tạo được đưa vào các vị trí qũy đạo riêng để khai thác, sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau như: thông tin viễn thông, phát sóng truyền hình, quan sát Trái đất để dự báo các thay đổi về môi trường, biến đổi khí hậu….
Quỹ đạo địa tĩnh nằm ở độ cao 36.000 km so với mặt đất, nằm trong quỹ đạo này các vệ tinh luôn có vị trí cố định so với mặt đất vì bay cùng vận tốc với vận tốc của Trái đất, do đó các trạm thu dưới mặt đất có thể đứng cố định để thu sóng từ vệ tinh nằm trong quỹ đạo này. Một vệ tinh được đưa lên vị trí thuộc quỹ đạo địa tĩnh sẽ có thể phủ sóng được một vùng rộng lớn, theo Giáo sư Philippe Achileas, Trường Đại học tổng hợp Paris XI, Pháp, ở độ cao 36.000 km chỉ cần 3 vệ tinh địa tĩnh là có thể phủ sóng cho toàn bộ Trái đất [58,5]. Quỹ đạo thấp nằm rất gần mặt đất có hai loại: quỹ đạo thấp từ 400 km đến 2.000 km và quỹ đạo thấp trung bình nằm cách mặt đất khoảng 10. Việc sử dụng quỹ đạo thấp có thể giảm được thời gian truyền tín hiệu, giảm được kích thước, chi phí sản xuất các thiết bị thu sóng so với việc sử dụng quỹ đạo địa tĩnh, nhưng vùng phủ sóng nhỏ hơn, đồng thời các vệ tinh ở vị trí quỹ đạo này phải chịu lực ma sát của tầng khí quyển lớn hơn nên có nguy cơ rối loạn, tuổi thọ ngắn.
8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ngoài các nguồn tài nguyên vũ trụ trên, con người còn có thể khai thác được nhiều lợi ích từ khoảng không vũ trụ. Hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia có ngành khoa học, công nghệ vũ trụ phát triển đang tiếp tục nghiên cứu khoảng không vũ trụ, Mặt trăng và các thiên thể khác nhằm mục đích khai thác và sử dụng chúng một cách hiệu quả phục vụ cho các nhu cầu của con người. Vai trò của sự chiếm lĩnh khoảng không vũ trụ Khoảng vài thập kỷ gần đây cùng với sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ vũ trụ và các lĩnh vực khoa học khác có liên quan như: công nghệ thông tin, cơ khí, điện tử, công nghệ vật liệu…, hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ của con người đã có những bước phát triển mạnh mẽ, góp phần thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế và quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới. Chiếm lĩnh khoảng không vũ trụ khẳng định quyền lợi và chủ quyền của mỗi quốc gia đối với khoảng không vũ trụ.
Như đã trình bày ở mục 1. vị trí quỹ đạo địa tĩnh cho vệ tinh là hữu hạn nên việc “chiếm lĩnh” khoảng không vũ trụ thông qua việc sử dụng vệ tinh khẳng định quyền lợi và chủ quyền của mỗi quốc gia đối với việc sử dụng khoảng không vũ trụ. Chiếm lĩnh khoảng không vũ trụ còn có vai trò to lớn trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội, bảo vệ an ninh – quốc phòng. Nhờ có vệ tinh mà hàng tỷ cá nhân trên khắp các châu lục có thể liên lạc với nhau một cách thuận tiện, nhanh chóng, họ có thể cùng theo dõi một trận bóng đá, một bản nhạc, một cuộc hội nghị quan trọng…thông qua truyền hình, phát thanh và điều này đã tiết kiệm rất nhiều chi phí cho con người, đáp ứng nhu cầu cho con người một cách tốt nhất.
Nhờ có vệ tinh mà nhiều doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thông tin, truyền thông đã thu về những khoản lợi nhuận khổng lồ. Ngoài ra, trong hoạt động bảo vệ an ninh, quốc 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.