CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỊ NẠN VÀ NGƯỜI TỊ NẠN 1. Khái niệm tị nạn Tị nạn là hiện tượng đã xuất hiện từ lâu nhưng đến nay, trên thế giới chưa có một khái niệm về tị nạn thật sự thống nhất. Lịch sử châu Âu thời Trung cổ, những kẻ đào tẩu có thể thoát khỏi án tử hình bằng cách cư ngụ tại một nhà thờ và không ai có thể vào làm hại, bắt giữ hoặc loại bỏ người đó để trừng phạt3.
Theo tiếng Anh thuật ngữ refuge (nơi ẩn náu) để chỉ nơi mang lại sự bảo vệ hoặc trú ẩn khỏi nguy hiểm, rắc rối, bất hạnh4. Trong từ điển Hán việt, tị nạn được viết dưới dạng 避難. Trong đó tị (避) có nghĩa là “tránh né, lánh, trốn”5. Còn nạn (難) có nghĩa là “hoạn nạn”6.
Tị nạn (避難) tức tránh điều không may xảy tới7. Theo từ điển tiếng việt tị nạn (động từ) là “lánh đi ở nơi khác để khỏi bị những nguy hiểm, đe dọa do chiến tranh hoặc tình hình chính trị gây ra”8. Cho đến nay, pháp luật quốc tế không đưa ra khái niệm pháp lý về tị nạn nhưng thuật ngữ này hiện diện trong một số văn bản. Tuyên ngôn Quốc tế về Quyền con người năm 1948 tại Điều 14 đã nêu rằng: “Khi bị đàn áp, ai cũng có quyền tìm nơi tị nạn và được hưởng quyền tị nạn tại các quốc gia khác”.
Hiến chương châu Phi về quyền con người và nhân dân năm 1981 tại khoản 3 Điều 12 quy định: “Mọi cá nhân sẽ có quyền khi bị đàn áp, tìm kiếm và xin tị nạn ở các quốc gia khác phù hợp với luật pháp của các quốc gia đó và các công ước quốc tế”. Theo khoản 7 Điều 22 Công ước châu Mỹ về Nhân quyền năm 1969 quy định: “Mọi người có quyền xin và được tị nạn ở nước ngoài, phù hợp với pháp luật của nhà nước và các công ước quốc tế, trong trường hợp người đó bị truy nã vì các tội chính trị hoặc các tội thông thường có liên quan”. Trong Hiến pháp một số quốc gia trên thế giới thuật ngữ tị nạn được ghi nhận như một quyền của người tị nạn và quốc gia có nghĩa vụ cấp tị nạn 3 Becky Little, “Claiming ‘Sanctuary’ in a Medieval Church Could Save Your Life—But Lead to Exile For over 1,000 years, European fugitives found asylum in churches”, https://www.com/news/church- sanctuary-asylum-middle-ages, truy cập ngày 24/6/2022 4 Theo Từ điển tiếng Anh Cambridge online, https://dictionary.org/vi/dictionary/english/refuge, truy cập ngày 24/6/2022 5 Từ điển Hán Nôm online, https://hvdic.net/hv/tị, truy cập ngày 24/6/2022 6 Từ điển Hán Nôm online, https://hvdic.net/hv/nạn, truy cập ngày 24/6/2022 7 Từ điển Hán Nôm online, https://hvdic.net/hv/tị%20nạn, truy cập ngày 24/6/2022 8 Viện Ngôn Ngữ Học (2003), Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, Trung tâm Từ Điển Học (đồng xuất bản), tr 979 9 cho họ.
Điều 16a Hiến pháp Đức năm 1949 quy định: “Những người bị đàn áp vì lý do chính trị sẽ có quyền tị nạn”, Điều 28G Hiến pháp của Cộng hòa Indonesia năm 1945 quy định: “Mọi người sẽ có quyền không bị tra tấn hoặc đối xử vô nhân đạo và hèn hạ, và sẽ có quyền xin tị nạn chính trị từ một quốc gia khác”, Điều 27 Hiến pháp của Cộng hòa Bulgaria năm 1991 quy định: “Cộng hòa Bulgaria sẽ cấp quyền tị nạn cho những người nước ngoài bị đàn áp vì ý kiến hoặc hoạt động của họ nhằm bảo vệ các quyền và tự do được quốc tế công nhận”. Hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa có văn bản nào chính thức và trong khoa học pháp lý cũng chưa có nhà khoa học nào đưa ra khái niệm về tị nạn. Tuy nhiên, từ những khái niệm nêu trên tác giả có thể rút ra định nghĩa tị nạn như sau: “Tị nạn được hiểu là sự bảo vệ mà một quốc gia dành cho những người chạy trốn khỏi sự đàn áp, ngược đãi từ nơi xuất xứ của họ đến lãnh thổ của quốc gia hoặc ở nơi khác dưới sự kiểm soát của quốc gia”. Định nghĩa tị nạn còn được hiểu toàn diện và sâu sắc hơn bằng cách tìm hiểu về khái niệm người tị nạn.
Khái niệm người tị nạn 1. Khái niệm người tị nạn Thuật ngữ người tị nạn xuất phát trực tiếp từ tiếng Pháp “réfugié” với một ý nghĩa cụ thể: dùng để chỉ những người Tin lành bỏ trốn khỏi Pháp sau khi Sắc lệnh Nantes bị thu hồi vào năm 1685. Trong vòng một thập kỷ, thuật ngữ người tị nạn đã được sử dụng phổ biến hơn trong tiếng Anh để chỉ bất kỳ ai bị buộc phải chạy trốn đến một nơi an toàn, thường là vì nguy hiểm hoặc bị ngược đãi vì niềm tin tôn giáo hoặc chính trị9. Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, một số lượng lớn người chạy khỏi Đông Âu.
Trước tình hình đó, Công ước về vị thế của người tị nạn năm 195110 của Liên Hợp Quốc đã ghi nhận khái niệm “người tị nạn” là bất kỳ người nào “Do kết quả của các sự kiện xảy ra trước ngày 01/01/1951, và do sự sợ hãi có cơ sở là sự bị ngược đãi vì những lý do chủng tộc, tôn giáo, dân tộc, hoặc do là thành viên của một nhóm xã hội cụ thể nào đó, hay vì quan điểm chính trị, đang ở ngoài đất nước mà người đó có 9 Merriam-Webster, “The Origin of 'Refugee' The word originally referred to the Huguenots”, https://www.com/words-at-play/origin-and-meaning-of-refugee, truy cập 24/6/2022 10 Điều 1.2 Công ước về vị thế của người tị nạn năm 1951 10 quốc tịch và không thể, hoặc, do sự sợ hãi như vậy, không muốn tiếp nhận sự bảo vệ của quốc gia đó; hoặc người không có quốc tịch đang sống ở ngoài quốc gia mà trước đó họ đã từng cư trú do kết quả của những sự kiện đó mà không thể, hoặc do sự sợ hãi, mà không muốn trở lại quốc gia đó”. Đến năm 1967, Nghị định thư về vị thế của người tị nạn11 đã cơ bản khẳng định lại khái niệm trên và xóa bỏ giới hạn về địa lý, thời gian trong Công ước về vị thế của người tị nạn ban đầu. Theo đó, không chỉ những người châu Âu tham gia vào các sự kiện xảy ra trước ngày 01 tháng 01 năm 1951 mới có thể nộp đơn xin quy chế tị nạn mà nó dành cho tất cả mọi người. Trong khái niệm trên bao hàm nhiều thuật ngữ khó xác định cần được lý giải một cách rõ ràng như sau: Thứ nhất, về “sự sợ hãi có cơ sở” được hiểu là trạng thái mang tính chủ quan của cá nhân người tị nạn kết hợp với hoàn cảnh khách quan, làm cơ sở cho quyết định công nhận tị nạn12.
Để xác định chính xác liệu có sự sợ hãi thực tế hay không, cần phải xem xét cẩn thận các yếu tố xung quanh người đó. Chẳng hạn, một người có thể có niềm tin chính trị hoặc tôn giáo mạnh mẽ, việc coi thường chúng sẽ khiến họ không thể dung thứ được, ngược lại người khác có thể không có niềm tin mạnh mẽ như vậy. Một người có thể đưa ra quyết định để trốn thoát khỏi sự khinh thường đó để bảo vệ niềm tin của mình nhưng cũng có người lên kế hoạch cẩn thận cho chuyến đi của mình13. Thứ hai, “sự ngược đãi” không có khái niệm chính thức và những nỗ lực để xây dựng một khái niệm như vậy đã không thành công.
Từ Điều 33 của Công ước về vị thế của người tị nạn năm 1951, có thể suy ra rằng những mối đe dọa đến tính mạng hoặc quyền tự do vì chủng tộc, tôn giáo, quốc tịch, quan điểm chính trị hoặc tư cách thành viên của một nhóm xã hội cụ thể luôn dẫn tới sự ngược đãi14. 11 Khoản 2 Điều 1 Nghị định thư về vị thế của người tị nạn năm 1967 quy định: “Trong phạm vi Nghị định thư này, thuật ngữ “người tị nạn”, trừ trường hợp áp dụng khoản 3 của điều này, sẽ có nghĩa là bất cứ người nào thuộc khái niệm tại Điều 1 của Công ước, trong đó bỏ đi cụm từ “là nạn nhân của những cuộc xung đột diễn ra trước ngày 01/01/1951.” và “là nạn nhân của những cuộc xung đột như vậy.” trong Điều 1A(2) của Công ước”. 12 UNHCR (2019), Handbook on Procedures and Criteria for Determining Refugee Status and Guidelines on International Protection Under the 1951 Convention and the 1967 Protocol Relating to the Status of Refugees, Geneva, p. 21 11 Ngoài ra, còn có năm nguyên nhân gây nên nỗi sợ hãi bao gồm: “Chủng tộc” được hiểu theo nghĩa rộng nhất bao gồm tất cả các loại dân tộc có chung nguồn gốc, tạo thành một thiểu số trong một nhóm dân số lớn hơn15.
Sự phân biệt chủng tộc là một hành vi xâm hại đến quyền con người vì nó kéo theo nhiều hành động và hậu quả nghiêm trọng. Chúng ta đã biết đến Chế độ A-pac-thai (Apartheid) phân biệt giữa người da trắng và người da màu, da đen khiến họ không còn tự do dân chủ, tước bỏ đi nhiều quyền con người của họ. Do đó, phân biệt chủng tộc thể hiện một yếu tố quan trọng trong việc xác định sự tồn tại của sự ngược đãi. “Tôn giáo” là văn hoá, tín ngưỡng, đức tin của con người.
Xâm phạm đến nó là xâm phạm đến nhân phẩm của họ. Vì vậy, có thể cấu thành một sự ngược đãi về tinh thần, nó có thể xảy ra nhiều hình thức khác nhau như cấm gia nhập cộng đồng tôn giáo, xâm phạm đến những nơi thờ tự hoặc các biện pháp phân biệt đối xử nghiêm trọng được áp dụng đối với những người chỉ vì họ theo một tôn giáo nhất định16. Thuật ngữ “quốc tịch” theo UNHCR không chỉ được hiểu là “quyền công dân” mà có thể đề cập đến thành viên của một nhóm dân tộc hoặc ngôn ngữ và đôi khi có thể trùng lặp với thuật ngữ “chủng tộc”. Sự ngược đãi vì lý do quốc tịch có thể bao gồm những thái độ và biện pháp bất lợi nhằm vào một dân tộc thiểu số (dân tộc, ngôn ngữ)17.
Một “nhóm xã hội cụ thể” thường bao gồm những người có nền tảng, thói quen hoặc địa vị xã hội tương tự và có thể bao gồm các trường hợp ở trên như chủng tộc, tôn giáo, quốc tịch. Nhóm xã hội này có thể không tin tưởng vào cơ quan chính quyền và khiến cho họ có nguy cơ bị ngược đãi bởi sự tồn tại của mình18. Giữ “quan điểm chính trị” khác với quan điểm của Chính phủ tự nó không phải là cơ sở để yêu cầu quy chế tị nạn. Người xin tị nạn phải chứng minh vì giữ những ý kiến đó mà họ phải đối mặt với một sự ngược đãi.
Có thể là một sự trừng phạt quá mức và tùy tiện của cơ quan có thẩm quyền về quan điểm chính trị. UNHCR khuyến khích để xác định xem một người phạm tội 15 UNHCR (2019), tlđd (12), p.