phần mở đầu, nội dung luận án và kết luận. Phần nội dung luận án gồm bốn chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Chƣơng 2: Một số vấn đề lý luận pháp lý quốc tế cơ bản về khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thƣơng mại Chƣơng 3: Thực trạng, hoàn thiện pháp luật quốc tế và kinh nghiệm của một số quốc gia điều chỉnh vấn đề khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thƣơng mại Chƣơng 4: Thực trạng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam về khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thƣơng mại 9 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu 1.
Tổng quan các công trình nghiên cứu trên thế giới có liên quan đến đề tài Luận án 1. Đánh giá chung các công trình nghiên cứu trên thế giới Hiện nay trên thế giới, đã có nhiều công trình khoa học, nghiên cứu của các tác giả khác nhau liên quan đến vấn đề sử dụng, khai thác khoảng không vũ trụ vì mục đích hoà bình nói chung và nhằm mục đích thƣơng mại nói riêng. Cụ thể nhƣ: Prof. Karl-Heinz Bockstiegel, Dr.
Marietta Benko, Prof. Stephan Hobe (2005), Space law: basic legal documents, Eleven International Publishing, Netherlands. Karl-Heinz Bockstiegel, TS. Marietta Benko, GS.
Stephan Hobe (2005), Luật vũ trụ: những văn bản pháp lý cơ bản, NXB Eleven International Publishing, Hà Lan]; Henri A. Wassenbergh (1991), Principles of Outer Space law in Hindsight, Kluwer Academic Publishers, Netherlands.van Traa-Engelman (1993), Commercial utilization of Outer Space, Martinus Nijhoff Publishers, Netherlands [HL.van Traa-Engelman (1993), Sử dụng khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thương mại, NXB Martinus Nijhoff, Hà Lan]; Gbriel Lafferranderie, Daphné Crowther (1997), Outlook on Space law over the next 30 years – Essays published for the 30th Anniversary of the Outer Space Treaty, Kluwer Law International, Netherland. [Gbriel Lafferranderie, Daphné Crowther (1997), Viễn cảnh về luật Vũ trụ trong 30 năm tới – Bài viết công bố nhân dịp kỷ niệm 30 năm Hiệp ước Vũ trụ, NXB Kluwer Law International, Hà Lan); Julian Herminda (2004), Legal basis for a National Space Legislation, Kluwer Academic Publishers, Netherlands. [Julian Herminda (2004), Cơ sở pháp lý cho Pháp luật Vũ trụ Quốc gia, NXB Hàn Lâm Kluwer, Hà Lan); Kunihiko Tatsuzawa, The Regulation of Commercial Space Activities by the Non-Governmental Entities in Space Law, http://www.
[Kunihiko Tatsuzawa, Quy định về hoạt động thương mại vũ trụ của các tổ chức phi chính phủ trong Luật Vũ trụ, http://www. Gopalakrishnan (2011), New Perspectives on Space Law, The International Institute of Space Law, Paris. Gopalakrishnan (2011), Những quan điểm mới về Luật Vũ trụ, Học viện Quốc tế về Luật Vũ trụ, Paris; Nandasiri Jasentuliyana (1992), Space law development and scope, Greenwood publishing group, Netherlands [Nandasiri Jasentuliyana (1992), Sự phát triển và phạm vi của Luật Vũ trụ, NXB Greenwood, Hà 10 Lan]; United Nations (2006-2009), 2006-2009 review of latest developments in space science, technology, space applications, international collaboration and space law, United Nations, New York. [Liên hợp quốc (2006-2009), Tổng kết những phát triển mới nhất trong khoa học, công nghệ vũ trụ, đăng ký vật thể vũ trụ, hợp tác quốc tế và luật vũ trụ năm 2006-2009, Liên hợp quốc, New York); United Nations (2014), Report of Committee on the peaceful uses of Outer Space, United Nations, New York.
[Liên hợp quốc (2014), Báo cáo của Uỷ ban Vũ trụ vì hoà bình, Liên hợp quốc, New York]; United Nations, International Agreements and other available legal documents relevant to space-related activities (2010), Vienna, http://www.org [Liên hợp quốc (2010), Các điều ước quốc tế và các văn bản pháp luật khác có liên quan đến hoạt động trong khoảng không vũ trụ năm 2010, Viên, http://www.org]; Wayne N White Jr., Real Property Rights in Outer Space, http://www. [Wayne N White Jr., Quyền bất động sản trong khoảng không vũ trụ, http://www. Zhao Yun (2009), A legal regime for space tourism: creating legal certainty in outer space, University Dedman School of Law, Journal of Air Law and Commerce, Lexis Nexis, New York [TS. Andem (1992), International Legal Problems in the Peaceful Exploration and Use of Outer Space, University of Lapland, Rovaniemi [M.
Những công trình khoa học trên thế giới đã đƣa ra những kiến thức tổng quan nhất về vấn đề sử dụng, khai thác khoảng không vũ trụ vì mục đích hoà bình cùng những bàn luận, dự liệu về những hệ quả pháp lý xoay quanh vấn đề khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thƣơng mại. Nghiên cứu các tác phẩm đó sẽ có thêm đƣợc những kiến thức bề sâu và bề rộng về vấn đề sử dụng khoảng không vũ trụ trên thế giới. Tuy nhiên, các công trình khoa học phần lớn là của các tác giả là những nhà khoa học tại các nƣớc có nền kinh tế phát triển và trình độ kỹ thuật tiên tiến, trong cách thức tiếp cận vấn đề có phần thiên về hiệu quả khoa học, quân sự và thƣơng mại của việc khai thác khoảng không vũ trụ và đƣơng nhiên họ không đề cao việc luận bàn, trăn trở về việc xây dựng pháp luật vũ trụ tại quốc gia họ, bởi họ đã đi trƣớc Việt Nam một chặng đƣờng khá dài trong lĩnh vực này. Nội dung các công trình nghiên cứu trên thế giới Mark J.
Gopalakrishnan (2011), New Perspectives on Space Law, The International Institute of Space Law, Paris. Gopalakrishnan 11 (2011), Những quan điểm mới về Luật Vũ trụ, Học viện Quốc tế về Luật Vũ trụ, Paris] là một cuốn sách tập hợp các bài viết của nhiều nhà khoa học trong lĩnh vực luật vũ trụ trên thế giới nhƣ: Stephen E. Doyle (2011), “A Concise History of Space Law: 1910-2009”, Perspectives on Space Law, The International Institute of Space Law, Paris. Công trình nghiên cứu đề cập về lƣợc sử phát triển của Luật Vũ trụ trên thế giới qua bốn giai đoạn chính: (i) sự phát triển của khái niệm của pháp luật vũ trụ trƣớc sự kiện Sputnik: 1910-1957; (ii) sự minh định và chấp nhận một ngành luật áp dụng cơ bản: 1957-1966; (iii) mở rộng việc sử dụng khoảng không vũ trụ và các quy định pháp luật quốc gia và quốc tế để quản lý việc sử dụng đó – một quá trình liên tục kể từ cuối những năm 1950, và (iv) các quy định pháp luật về hoạt động của con ngƣời vƣợt ra ngoài bầu khí quyển, bao gồm pháp luật điều chỉnh việc thiết lập các trạm vũ trụ và cộng đồng tồn tại ngoài trái đất.
Công trình nghiên cứu nêu bật một số đóng góp trong từng giai đoạn phát triển của pháp luật vũ trụ. Theo công trình khoa học này, pháp luật vũ trụ là sự tích hợp nhiều sự đóng góp của nhiều luật gia, những nhà nghiên cứu ứng dụng và những nhà cải cách. “Luật” đã xuất hiện nhƣ một hiện tƣợng vừa “cứng” vừa “mềm”, vừa mang tính quốc gia vừa mang tính quốc tế, phần đƣợc chấp nhận, phần lại gây tranh cãi. Trong công trình nghiên cứu, pháp luật vũ trụ đƣợc coi nhƣ tập hợp các quy định pháp luật quốc gia và quốc tế, bao gồm luật, nghị quyết, điều ƣớc quốc tế, thỏa thuận, và các công ƣớc, đƣợc tạo ra để cấp phép, quản lý, và điều chỉnh hoạt động trong hoặc có liên quan đến khoảng không vũ trụ trên phạm vi toàn cầu, khu vực và mang tính thƣơng mại của quốc gia, mang tính dân sự của chính phủ và các hoạt động quốc phòng của quốc gia hoặc khu vực.
De Man (2011), “The Commercial Exploitation of Outer Space and Celestial Bodies – A Functional Solution to the Natural Resource Challenge”, Perspectives on Space Law, The International Institute of Space Law, Paris. Công trình nghiên cứu cho rằng chế độ pháp lý về nguồn tài nguyên vũ trụ cần thay đổi tùy theo môi trƣờng mà chúng có nguồn gốc. Khoáng sản đƣợc dự trữ trên các thiên thể đƣợc coi là có thể sử dụng trong khi ngƣợc lại, quỹ đạo tần số vẫn còn ở chế độ pháp lý độc quyền. Dựa trên sự diễn giải khoa học về chế độ pháp lý khoảng không vũ trụ, công trình nghiên cứu của tác giả Ph.De 12 Man đã đƣa ra một cách tiếp cận toàn diện hơn để điều chỉnh các nguồn tài nguyên vũ trụ.
Việc tiếp cận này dựa trên thực tế là các loại tài nguyên thiên nhiên chủ yếu đƣợc xác định bởi tiềm năng của chúng nhƣ một nguồn giá trị kinh tế sau khi đƣợc khai thác bởi hoạt động của con ngƣời. Vì vậy, tài nguyên thiên nhiên nên đƣợc quản lý bởi một chế độ pháp lý thống nhất, đƣợc xác định bởi các nguyên tắc cơ bản là các quốc gia tự do sử dụng khoảng không vũ trụ và sử dụng không phân biệt giữa các quốc gia. Các điều ƣớc pháp luật vũ trụ hiện tại chƣa có kết luận cụ thể về việc khai thác tài nguyên thiên nhiên trong khoảng không vũ trụ và đây vẫn còn là vấn đề gây nhiều tranh luận giữa các học giả pháp lý. Phƣơng pháp tiếp cận các nguồn tài nguyên vũ trụ cho thấy có thể và cần thiết phải phân định giữa việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên của các thiên thể và các tài nguyên vũ trụ khác.
Để xác định vấn đề này, công trình đã xác định (i) liệu có thể khái niệm “thiên thể” không (phần I); (ii) liệu nguyên tắc không chiếm hữu có thể đƣợc coi là áp dụng đối với tài nguyên thiên nhiên không (phần II); và (iii) khái niệm “tài nguyên thiên nhiên” đƣợc hiểu là những gì trong các văn bản pháp luật về khoảng không vũ trụ và những nguyên tắc pháp lý hƣớng dẫn khai thác các nguồn tài nguyên (phần III). Công trình nghiên cứu cho rằng quan điểm áp dụng một cách chọn lọc nguyên tắc không chiếm hữu khoảng không vũ trụ vào tài nguyên thiên nhiên là không đủ thuyết phục vì tài nguyên thiên nhiên thuộc quyền tự do khai thác của các quốc gia. Công trình nghiên cứu đã giải quyết một số vấn đề nhƣ: định nghĩa các thiên thể liên quan đến chế độ pháp lý của tài nguyên thiên nhiên, bao gồm định nghĩa sơ lƣợc và định nghĩa chuyên biệt; tác động đến việc áp dụng nguyên tắc không chiếm hữu; chế độ pháp lý của tài nguyên thiên nhiên bao gồm định nghĩa, đề xuất về một chế độ pháp lý linh hoạt của tài nguyên vũ trụ; và một số quan điểm kết luận về lĩnh vực này. Mariam Yuzbashyan (2011), “Potential Uniform International Legal Framework for Regulation of Private Space Activities”, Perspectives on Space Law, The International Institute of Space Law, Paris.
[Mariam Yuzbashyan (2011), “Khung Pháp luật Quốc tế Mẫu Tiềm năng về Hoạt động Vũ trụ của Tƣ nhân”, Những quan điểm mới về Luật Vũ trụ, Học viện Quốc tế về Luật Vũ trụ, Paris. Các hoạt động vũ trụ ngày càng phát triển bị ảnh hƣởng bởi xu hƣớng toàn cầu hóa, thƣơng mại hóa và tƣ nhân hóa đã gây ra cuộc tranh luận pháp lý khác nhau và có thể làm phát sinh thêm các thách thức cho quy định pháp luật vũ trụ.