Thực trạng và định hướng hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam về ngân hàng xanh

Bài viết phân tích thực trạng pháp luật về ngân hàng xanh tại Việt Nam, đồng thời đề xuất các định hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý này.

Chuyên ngành

Luật Thương mại

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Công trình dự thi nghiên cứu khoa học sinh viên cấp trường

2022 – 2023

101
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và Đặc điểm của Ngân hàng Xanh tại Việt Nam

Ngân hàng xanh là một khái niệm mới mẻ nhưng vô cùng quan trọng trong bối cảnh biến đổi khí hậu ở Việt Nam. Ngân hàng xanh được định nghĩa là các tổ chức tín dụng có tích hợp yếu tố bảo vệ môi trườngtrách nhiệm xã hội vào chiến lược kinh doanh bền vững. Các ngân hàng xanh phát triển sản phẩm và dịch vụ tài chính lành mạnh, giảm phát thải carbon, và thực hiện tín dụng xanh để hỗ trợ các dự án môi trường. Với vai trò là trung gian tài chính quan trọng, ngành ngân hàng Việt Nam đã nhận thức được ý nghĩa của mô hình này trong việc cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, đáp ứng yêu cầu của phát triển bền vững trong thời đại mới.

1.1. Định nghĩa và Khái niệm Ngân hàng Xanh

Ngân hàng xanh là các tổ chức tín dụng áp dụng chiến lược kinh doanh bền vững với mục tiêu cân bằng lợi nhuận và bảo vệ môi trường. Chúng tích hợp yếu tố xã hội và môi trường trong quyết định cấp tín dụng, giảm khí thải carbon trong hoạt động nội bộ, và phát triển sản phẩm dịch vụ xanh cho khách hàng. Mô hình này thể hiện trách nhiệm xã hội doanh nghiệp của lĩnh vực tài chính.

1.2. Ý Nghĩa và Tầm Quan Trọng

Ngân hàng xanh có ý nghĩa sâu sắc trong việc ứng phó biến đổi khí hậu và thúc đẩy phát triển xanh tại Việt Nam. Thông qua tín dụng xanhgiảm phát thải carbon, ngành ngân hàng góp phần quan trọng vào bảo vệ môi trường đồng thời tạo ra cơ hội kinh doanh mới. Điều này giúp xây dựng nền kinh tế bền vững và đáp ứng trách nhiệm quốc tế của Việt Nam.

II. Thực Trạng Pháp Luật Ngân hàng Xanh tại Việt Nam

Thực trạng pháp luật về ngân hàng xanh tại Việt Nam cho thấy những bước tiến đáng kể nhưng vẫn còn nhiều khoảng trống cần hoàn thiện. Mặc dù Chính phủ Việt Nam đã ban hành một số chính sách khuyến khích tín dụng xanhphát triển bền vững, nhưng hệ thống pháp luật toàn diện chưa được xây dựng hoàn chỉnh. Các tổ chức tín dụng tại Việt Nam đã tự phát triển các sản phẩm và dịch vụ xanh, nhưng thiếu hướng dẫn pháp luật cụ thể về đánh giá rủi ro môi trường và xanh hóa quy trình nội bộ. Hiện nay, pháp luật ngân hàng xanh Việt Nam chủ yếu được điều chỉnh bởi các văn bản chỉ đạo chứ không phải luật chuyên ngành độc lập.

2.1. Ứng Dụng Ngân hàng Xanh tại Các Ngân hàng Việt Nam

Nhiều tổ chức tín dụng hàng đầu Việt Nam đã bắt đầu áp dụng mô hình ngân hàng xanh thông qua tín dụng xanh cho dự án năng lượng tái tạo, quản lý nước sạch, và công nghệ xanh. Các ngân hàng cũng thực hiện giảm phát thải carbon trong văn phòng, sử dụng năng lượng tái tạo, và phát triển dịch vụ tài chính xanh. Tuy nhiên, hiệu quả vẫn còn hạn chế do thiếu khung pháp luật toàn diện.

2.2. Những Khó Khăn trong Thực Hiện Ngân hàng Xanh

Các tổ chức tín dụng gặp khó khăn trong việc thực hiện ngân hàng xanh do thiếu định hướng pháp luật rõ ràng, khó đánh giá rủi ro môi trường của các dự án, thiếu cán bộ chuyên môn, và nhận thức còn hạn chế từ khách hàng. Ngoài ra, chi phí hoạt động xanh cao hơn mà chưa có cơ chế hỗ trợ tài chính từ nhà nước.

III. Kinh Nghiệm từ Các Quốc Gia Phát Triển Ngân hàng Xanh

Các quốc gia trên thế giới như Bangladesh, Trung Quốc, và Hoa Kỳ đã phát triển pháp luật ngân hàng xanh rất hiệu quả. Bangladesh là quốc gia đi tiên phong với Định lệnh Ngân hàng Xanh, trong đó các tổ chức tín dụng phải tuân thủ các hướng dẫn về đánh giá rủi ro môi trườngtín dụng xanh. Trung Quốc đã xây dựng hành lang pháp lý hoàn chỉnh bao gồm các chính sách khuyến khích chứng khoán xanh, bảo hiểm xanh, và tín dụng xanh với sự hỗ trợ của Chính phủ. Hoa Kỳ thông qua Đạo luật Ngân hàng Khí hậu Quốc gia năm 2021 để tăng cường hỗ trợ tài chính cho các dự án phát triển bền vững.

3.1. Mô Hình Ngân hàng Xanh Bangladesh

Ngân hàng Bangladesh đã thiết lập Sáng kiến Ngân hàng Xanh toàn diện yêu cầu tất cả tổ chức tín dụng tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường trong cấp tín dụng xanh. Các ngân hàng phải có chính sách đánh giá rủi ro môi trường, xanh hóa quy trình nội bộ, và báo cáo định kỳ về hoạt động xanh. Mô hình này đã tạo ra tác động tích cực đáng kể.

3.2. Chính Sách Tài Chính Xanh Trung Quốc

Trung Quốc phát triển hệ thống tài chính xanh hoàn chỉnh với chính sách khuyến khích, tiêu chuẩn xanh, và cơ chế giám sát chặt chẽ. Chính phủ Trung Quốc cấp tín dụng ưu đãi, quỹ tín dụng xanh, và các công cụ tài chính hỗ trợ dự án xanh, tạo ra sự phát triển nhanh của tài chính xanh.

IV. Định Hướng Hoàn Thiện Pháp Luật Ngân hàng Xanh Việt Nam

Để hoàn thiện pháp luật ngân hàng xanh tại Việt Nam, cần thiết phải xây dựng khung pháp luật toàn diện với các tiêu chuẩn xanh rõ ràng, hướng dẫn đánh giá rủi ro môi trường, và cơ chế hỗ trợ tài chính từ nhà nước. Quốc hội cần xem xét ban hành luật chuyên ngành về tài chính xanhngân hàng xanh. Các tổ chức tín dụng cần được khuyến khích phát triển sản phẩm dịch vụ xanh thông qua chính sách ưu đãi, giảm lãi suất tín dụng xanh, và hỗ trợ đào tạo cán bộ chuyên môn. Ngoài ra, cần tăng cường nội dung giáo dục về bảo vệ môi trường để nâng cao nhận thức cộng đồng về phát triển bền vững.

4.1. Kiến Nghị Xây Dựng Hệ Thống Pháp Luật

Cần ban hành luật chuyên ngành về ngân hàng xanhtài chính xanh với tiêu chuẩn xanh rõ ràng, quy trình đánh giá rủi ro môi trường, và yêu cầu báo cáo định kỳ. Quốc hội nên xây dựng hành lang pháp lý tương tự BangladeshTrung Quốc, kết hợp với chính sách khuyến khích từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

4.2. Giải Pháp Từ Phía Hệ Thống Ngân hàng

Các tổ chức tín dụng cần đưa ra chiến lược kinh doanh xanh rõ ràng, đầu tư công nghệ xanh, xây dựng năng lực đánh giá rủi ro môi trường, và phát triển sản phẩm tín dụng xanh đa dạng. Cần đào tạo cán bộ về tiêu chuẩn xanh, hợp tác với các tổ chức môi trường, và thúc đẩy nội dung giáo dục tài chính xanh.

18/12/2025
Trạng và định hướng hoàn thiện quy định pháp luật việt nam về ngân hàng xanh

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁP LUẬT NGÂN HÀNG XANH 1. Khái quát chung về ngân hàng xanh và pháp luật điều chỉnh ngân hàng xanh ở một số quốc gia trên thế giới 1. Khái quát chung về khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của ngân hàng xanh Những năm trở lại đây, ngân hàng xanh là một khái niệm mới nổi lên ở Việt Nam. Dù là một khái niệm mới nhưng Chính phủ, Ngân hàng nhà nước và các ngân hàng thương mại đã tiến hành tích cực, chủ động áp dụng ngân hàng xanh vào trong hoạt động ngân hàng ở các ngân hàng thương mại.

Tuy nhiên, việc chưa có cách hiểu đồng nhất về khái niệm, đặc điểm hay ý nghĩa của ngân hàng xanh đã phần nào khiến việc áp dụng ngân hàng xanh trở nên khó khăn hơn. Những nghiên cứu dưới đây của nhóm sẽ góp phần đưa lại cách hiểu chung nhất về khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của ngân hàng xanh. Trong gần nửa thế kỉ qua năm qua, cùng với sự tăng trưởng vượt bậc của nền kinh tế toàn cầu, nhân loại phải đối mặt với số hạn chế cấp bách về sự phát triển và các xu hướng tiêu cực kéo theo, như chênh lệch kinh tế và nghèo đói, tiêu thụ quá mức tài nguyên và suy thoái môi trường. Những vấn đề xã hội và môi trường này đã đánh thức nhân loại suy nghĩ cẩn thận hơn về cách bảo vệ hành tinh của chúng ta, điều này đã dẫn đến Hội nghị năm 1972 của Liên hợp quốc về môi trường con người ở Stockholm, cũng như sau đó là việc thành lập Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP).

Kể từ những năm 1980, phát triển bền vững, với tư cách là một khái niệm mới về phát triển con người, đã là một trong những thuật ngữ phổ biến nhất được sử dụng do nhận thức ngày càng cao về các vấn đề xã hội và môi trường4. Phát triển bền vững là mối quan tâm trên phạm vi toàn cầu. Trong tiến trình phát triển của thế giới, mỗi khu vực và quốc gia xuất hiện nhiều vấn đề bức xúc mang tính phổ biến. Kinh tế càng tăng trưởng thì tình trạng khan hiếm các loại nguyên nhiên liệu, năng lượng do sự cạn kiệt các nguồn tài nguyên không tái tạo được càng tăng thêm, môi trường thiên nhiên càng bị hủy hoại, cân bằng sinh thái bị phá vỡ, thiên nhiên gây ra những thiên tai vô cùng thảm khốc.

Khái niệm “ngân hàng xanh” lần đầu xuất hiện trên thế giới lần đầu vào năm 2003, nơi đầu tiên biết đến khái niệm này là ở các quốc gia phương Tây. Ban đầu, thuật ngữ này được dùng để chỉ các dự án kinh doanh với mục đích bảo vệ môi trường trong nghiên 4 Được sử dụng lần đầu tiên vào năm 1980, trong Chiến lược bảo tồn thế giới do Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên quốc tế, Quỹ động vật hoang dã thế giới và Chương trình Môi trường Liên hiệp quốc đề xuất, cùng với sự trợ giúp của UNESCO và FAO. 10 cứu khoa học. Sau đó các nhà kinh tế ở phương Tây đã sử dụng thuật ngữ này để dùng trong các nghiên cứu của mình và kể từ đó thuật ngữ này đã được sử dụng một cách rộng rãi hơn5.

Hiện nay có rất nhiều cách định nghĩa khi nhắc đến ngân hàng xanh mà không có một định nghĩa thống nhất về thuật ngữ này. Theo Công ty Sogesid Spa, một công ty cổ phần kỹ thuật cung cấp nội bộ của Bộ Môi trường và Bảo vệ lãnh thổ và biển; Bộ Cơ sở hạ tầng và giao thông thuộc sở hữu của Nhà nước Ý6 thì ngân hàng xanh là kiểu ngân hàng một mặt vẫn hoạt động như ngân hàng truyền thống như cung cấp các dịch vụ cho khách hàng .Một mặt thực hiện các chương trình giúp cho cộng đồng và môi trường phát triển. Đây không phải là một loại hình doanh nghiệp hoạt động thuần túy vì trách nhiệm xã hội như các doanh nghiệp xã hội, cũng không hoàn toàn là doanh nghiệp thuần túy chỉ có một mục tiêu lợi nhuận mà có sự kết hợp đảm bảo sự hài hòa và bền vững về kinh tế - môi trường – xã hội7. Theo Lalon, khái niệm ngân hàng xanh có thể được hiểu theo hai khía cạnh: (i) Ngân hàng thực hiện các hoạt động trực tiếp nhằm giảm thiểu tác động đến môi trường như sử dụng tiết kiệm năng lượng, nước, xử lý rác thải,…; (ii) Ngân hàng tác động gián tiếp đến môi trường thông qua việc tăng cường hỗ trợ các dự án thân thiện với môi trường như: Nhà máy sử dụng khí đốt từ chất thải, nhà máy cung cấp năng lượng tái tạo và năng lượng mặt trời, nhà máy chế tạo phân sinh học,…8 Theo Bahl, ngân hàng xanh bao gồm các hoạt động ngân hàng trực tuyến, thực hiện các giao dịch qua mạng thay vì mở rộng chuỗi chi nhánh của ngân hàng.

Trong nghiên cứu của Millat và các cộng sự, ngân hàng xanh có thể tiếp cận theo hai hướng, bao gồm: (1) tập trung xanh hóa hoạt động nội bộ của ngân hàng và (2) tài trợ cho các dự án thân thiện với môi trường, chú trọng yếu tố môi trường xã hội trong quá trình thẩm định cho vay9. Nghiên cứu năm 2014 của Singal và Arya cho rằng ngân hàng xanh 5 Trần Linh Huân (2019), “Phát triển ngân hàng xanh – Thực trạng và định hướng hoàn thiện chính sách, pháp luật Việt Nam”, Tạp chí luật học số 7/2019, tr. 6 Sogesid Spa được thành lập vào năm 1994 tại Roma với tư cách là công ty quản lý các nhà máy nước, theo thời gian công ty này đã mở rộng và bén rễ trong các lĩnh vực môi trường. Hiện nay, các ngành chính của công ty này bao gồm xử lý nước, nước thải và các hệ thông khác; xây dựng hệ thống tiện ích, cấp nước, đường nước, cống rãnh và tiện ích.

Địa chỉ trụ sở chính của công ty nằm tại VIA NOMENTANA 41 ROMA, ROMA, 00161 Ý. 7 SOGESID Spa, “The evolution of the Sustainable Development concept”, http://www.it/english _site/Sustainable_Development.html, truy cập ngày 16/7/2023. 8 Hồ Ngọc Tú, Nguyễn Mai Hảo, “Phát triển ngân hàng xanh tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và một số gợi ý”, https://mof.vn/webcenter/portal/vclvcstc/pages_r/l/chi-tiet-tin?dDocName=MOFUCM090346, truy cập ngày 16/7/2023. 9 “Green Banking: Going Green”, https:/www.net/publication/281618047_Green_Banking_Going_Green, truy cập ngày 9/8/2023.

11 nghiêng về hoạt động kinh tế xã hội và chú trọng yếu tố môi trường thông qua giảm lượng carbon cả trong và ngoài ngân hàng. Cụ thể, ngân hàng giảm lượng carbon trong ngân hàng bằng cách thực hiện các hoạt động trực tuyến, sử dụng hệ thống ATM, mobile banking, các loại thẻ, trao đổi qua thư điện tử… nhằm giảm thiểu các hoạt động liên quan đến giấy tờ, văn phòng phẩm, máy điều hòa… Đối với mục tiêu giảm lượng khí thải ngoài ngân hàng, các ngân hàng thực hiện tín dụng xanh hay là tài trợ cho các dự án thân thiện với môi trường, giảm thải ô nhiễm, ưu tiên đối với những ngành công nghiệp xanh10. Hiểu theo góc nhìn rộng thi ngân hàng xanh là “ngân hàng bền vững”. Còn theo góc nhìn hẹp, ngân hàng xanh dùng để chỉ các hoạt động khuyến khích các hoạt động bảo vệ môi trường và giảm lượng khí thải carbon như khuyến khích sử dụng các sản phẩm và dịch vụ xanh; áp dụng các tiêu chuẩn môi trường để phê duyệt các khoản vay hoặc cung cấp các khoản tín dụng ưu đãi cho các dự án giảm CO2 11.

Có thể hiểu các khái niệm về ngân hàng xanh đều có một điểm chung đó là việc hướng đến các vấn đề chính như: (i) giảm phát thải carbon trong hoạt động nội bộ ngân hàng; (ii) phát triển các sản phẩm, dịch vụ xanh và (iii) thúc đẩy hoạt động vì môi trường thông qua tín dụng xanh. Các ngân hàng đã tiến hành giảm thải carbon thông qua việc giảm thiểu tác động của những hoạt động trong ngân hàng ảnh hưởng đến môi trường như việc sử dụng điện, nước, giấy, vật dụng văn phòng,… Do đó các ngân hàng hướng tới giảm số lượng các chi nhánh, văn phòng, xây dựng các cơ sở hạ tầng “xanh”, sử dụng những trang thiết bị ít gây ảnh hưởng đến môi trường, sử dụng tiết kiệm các nguồn năng lượng,… Đồng thời, họ cũng phát triển các sản phẩm, dịch vụ xanh là phát triển các sản phẩm dịch vụ có thể giảm lượng carbon, như các dịch vụ ngân hàng điện tử (phone banking, internet banking, mobile banking,…), dịch vụ thanh toán tự động, thanh toán không dùng tiền mặt, chủ yếu là thanh toán qua thẻ. Bên cạnh đó, các ngân hàng cũng khuyến khích khách hàng quan tâm môi trường bằng việc áp dụng chính sách tín dụng xanh - chính sách có những ưu đãi đối với các dự án thân thiện môi trường, dự án bảo 10 “Thực trạng hoạt động ngân hàng xanh tại Việt Nam”, https://gec.vn/tong-hop/thuc-trang-hoat-dong-ngan- hang-xanh-tai-viet-nam.html, truy cập ngày 16/7/2023. 11 “Phát triển Ngân hàng xanh ở Việt Nam”, https://vju.vn/tin-tuc/phat-trien-ngan-hang-xanh-o-viet-nam- nd346.html#:~:text=Theo%20kh%C3%A1i%20ni%E1%BB%87m%20h%E1%BA%B9p%3A%20Ng%C3%A2 n,c%C3%A1c%20d%E1%BB%B1%20%C3%A1n%20gi%E1%BA%A3m%20CO2., truy cập ngày 16/7/2023.

12 vệ môi trường, thực hiện thẩm định rủi ro môi trường - xã hội trong hoạt động cấp tín dụng,…12 Như vậy, ngân hàng xanh cũng giống các ngân hàng truyền thống khác như có các hoạt động về huy động vốn, cấp tín dụng, dịch vụ thanh toán,… nhưng có cân nhắc đến yếu tố môi trường, xã hội thông qua các chiến lược kinh doanh bền vững, đáp ứng được yêu cầu về trách nhiệm xã hội, bảo vệ môi trường, đảm bảo sự hài hòa giữa môi trường và kinh tế. Ngân hàng xanh giảm thiểu lượng carbon theo hướng khuyến khích hoạt động tín dụng xanh và xanh hóa các hoạt động điều hành tổ chức công việc nội bộ của ngân hàng. Ngân hàng xanh là ngân hàng có những đặc điểm giống các ngân hàng hoạt động theo kiểu truyền thống, hoạt động ngân hàng của ngân hàng xanh là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ như nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản,… Tuy nhiên, ngoài những đặc điểm trên thì ngân hàng xanh còn có những đặc điểm chính như: Triển khai các dịch vụ điện tử và tự động hóa; ưu tiên cho vay hoặc đầu tư vào dự án có đánh giá các rủi ro liên quan đến môi trường; quan tâm đến các mục tiêu xã hội, mục tiêu phát triển bền vững và phát triển xanh, giám sát, hướng dẫn các dự án của khách hàng để giảm thiểu ô nhiễm môi trường; thay đổi năng lực đánh giá của cán bộ ngân hàng và khách hàng về các hoạt động thân thiện với môi trường. Việc thúc đẩy phát triển ngân hàng xanh sẽ chủ động tạo ra những tác động đến môi trường theo hướng tích cực, ảnh hưởng rộng rãi đến nhiều lĩnh vực trong cuộc sống, đảm bảo phát triển bền vững cả ba yếu tố kinh tế - môi trường - xã hội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ