phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận. Trong đó phần nội dung của đề tài gồm 2 chương: Chƣơng 1. Khái quát về công việc không tiêu chuẩn Chƣơng 2. Thực tiễn pháp luật lao động Việt Nam về công việc không tiêu chuẩn và một số kiến nghị.
12 CHƢƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ CÔNG VIỆC KHÔNG TIÊU CHUẨN 1. Cơ sở lý luận về công việc không tiêu chuẩn 1. Khái niệm công việc không tiêu chuẩn Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội và nhu cầu của NSDLĐ, các công việc không tiêu chuẩn ngày càng gia tăng về cả số lượng và chất lượng. Tuy nhiên, trong khoa học pháp lý, hiện nay ở nước ta vẫn chưa ghi nhận khái niệm công việc không tiêu chuẩn trong bất kỳ văn bản quy phạm pháp luật nào.
“Tiêu chuẩn” được hiểu với nghĩa chung nhất là căn cứ, chuẩn mực, chừng mực, là khuôn khổ để đánh giá. Khái niệm này được định nghĩa thông qua một số sách từ điển. Theo từ điển Tiếng Việt, “tiêu chuẩn” là (i) điều được quy định dùng làm chuẩn để phân loại đánh giá: tiêu chuẩn để xét khen thưởng, các tiêu chuẩn đạo đức hoặc (ii) mức được hưởng, cấp theo chế độ: tiêu chuẩn ăn hàng ngày, tiêu chuẩn nghỉ phép 1 hàng năm. Ở một tài liệu khác, “tiêu chuẩn” được định nghĩa tương tự là điều quy định làm căn cứ để đánh giá: tiêu chuẩn để xem xét khen thưởng, sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc gia.
Mức quy định được hưởng, được cung cấp theo chế độ: bảo đảm tiêu 2 chuẩn ăn hàng ngày cho bộ đội, tiêu chuẩn nghỉ phép hàng năm. Tiêu chuẩn được 3 hiểu là “cái làm mức, chừng mực để làm căn cứ đánh giá”. Công việc là việc cụ thể 4 phải bỏ công sức ra để làm. Trong Tiếng Việt, từ “không” là từ biểu thị ý phủ định đối 5 với một điều, chỉ trạng thái hoàn toàn không có những gì thường thấy ở đó cả.
Do đó, khái niệm “công việc không tiêu chuẩn” ở đây có thể hiểu là những công việc thiếu đi một trong những điều kiện, những tiêu chuẩn hoặc không có một quy chuẩn cụ thể nào so với các quy định chung của công việc thông thường. Trong khoa học pháp lý trên thế giới tồn tại khá nhiều định nghĩa khác nhau về công việc không tiêu chuẩn, trong đó có thể kể đến một số định nghĩa được thừa nhận và sử dụng khá rộng rãi như sau: Theo tác giả Gary Slater cho rằng: “Để xác định việc làm không tiêu chuẩn, cần xác định việc làm thường xuyên và không thường xuyên. Trong bối cảnh ở 1 Nguyễn Như Ý, Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb. Văn hóa Thông tin, tr.
2 Hoàng Phê (2003), Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, tr. 3 Hoàng Phê (2003), Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, Đà Nẵng, tr.
4 Hoàng Phê (2003), tlđd (2), tr. 5 Hoàng Phê (2003), tlđd (2), tr. 13 Anh, công việc thường xuyên được định nghĩa là một công việc do nhân viên làm toàn thời gian, theo hợp đồng với một doanh nghiệp hoặc tổ chức kinh tế. Do đó công việc không thường xuyên gồm bất kỳ sự sai lệch nào hoặc sự khác đi so với các tiêu chuẩn của công việc thường xuyên”.
Các hình thức việc làm không thường xuyên mà tác giả Gary Slater liệt kê có thể kể đến là “công việc tạm thời, công việc 6 bán thời gian và công việc tự làm chủ”. Như vậy, theo tác giả Gary Slater, để xem xét và phân loại một loại hình công việc có thể được xem là công việc không tiêu chuẩn hay không thì cần so sánh với các tiêu chuẩn của công việc thường xuyên. Nếu có sự sai khác so với các tiêu chuẩn của công việc thông thường thì được xem xét là công việc không tiêu chuẩn. Còn theo quan điểm của đại diện Phòng ban Liên hiệp Công đoàn Nhật Bản (JTUC-RENGO), khái niệm công việc không tiêu chuẩn (“non-standard”) được hiểu 7 thông qua định nghĩa về “người lao động không tiêu chuẩn”.
Theo đó, những NLĐ “không tiêu chuẩn” là những NLĐ làm việc không thường xuyên, liên tục. Những người này làm việc “bán thời gian”. Họ làm việc trong một khoảng thời gian nhất định của ngày hoặc theo hợp đồng đại lý. Theo quan điểm này, không chỉ khác nhau về thời gian làm việc so với NLĐ có tiêu chuẩn mà còn khác nhau về quyền lợi của NLĐ.
Điều này thể hiện ở chỗ trong khi NLĐ “tiêu chuẩn” được hưởng các phúc lợi như chính sách về nhà ở, tiền lương, tiền thưởng, bảo hiểm, đào tạo nghề. Ngược lại, NLĐ không tiêu chuẩn chỉ hưởng lương và tiền lương của những người này chỉ bằng 40% tiền lương cho cùng công việc khi so sánh với những người làm công việc tiêu chuẩn. Ngoài ra, họ không được đào tạo, không được hưởng trợ cấp hoặc được hưởng bảo hiểm thất nghiệp. Ở một tài liệu khác, theo những nhà nghiên cứu ở Úc, công việc không tiêu chuẩn (“non-standard”) được định nghĩa dựa trên các tiêu chí, tính chất của “công việc tiêu chuẩn”.
Theo đó, “công việc tiêu chuẩn” được mô tả là những công việc toàn thời gian, có khả năng tạo ra mức thu nhập ổn định, có khả năng hỗ trợ một mức sống tối thiểu, diễn ra một cách liên tục, thường xuyên, có tính ổn định lâu dài tại cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc sở hữu của NSDLĐ. Do đó, công việc không tiêu chuẩn được suy ra là những công việc thiếu đi một trong những điều kiện, tính chất của công việc tiêu chuẩn. Các tính chất công việc mà tài liệu minh họa chẳng 6 Gary Slater, “Non-Regular Employment in the United Kingdom”, Bradford University, tr. 7 Yoji Tatsui, “Situation of Non-Regular Workers in Japan-Toward a Recommendation on Non-Regular Employment”, ExecutiveDirector of Non-Regular Employment Japanese Trade Union Confederation, tr.
14 8 hạn như thời gian làm việc ngắn hơn, thường không mang tính liên tục. Bên cạnh đó, trong một bài viết của tác giả Diane Lim - nhà bình luận pháp luật người Mỹ lại định nghĩa công việc không tiêu chuẩn (“non-standard”) bằng cách liệt kê. Theo Diane Lim công việc không tiêu chuẩn bao gồm công việc tạm thời, công việc bán 9 thời gian và công việc tự làm việc. Khái niệm “công việc không tiêu chuẩn” cũng được suy ra thông qua khái niệm về NLĐ toàn thời gian trong Đạo luật chăm sóc năm 2010 của Hoa Kỳ.
Theo đó, một nhân viên được coi là nhân viên toàn thời gian nếu họ làm việc ít nhất 30 giờ mỗi tuần hoặc 130 giờ mỗi tháng. Những NLĐ làm việc ít hơn 30 giờ mỗi tuần hoặc 130 giờ mỗi tháng được coi là NLĐ không trọn 10 thời gian (lao động không tiêu chuẩn). Như vậy, Đạo luật này lấy thời gian làm việc làm tiêu chí để phân loại một công việc liệu có phải là công việc không tiêu chuẩn hay không. Khái niệm này cũng được nhắc đến tại Điều 2 Đạo luật cải tiến về quản lý việc làm cho nhân viên bán thời gian của Nhật Bản.
Theo đó, nội hàm công việc không tiêu chuẩn được đề cập cũng tương tự cách hiểu, cách định nghĩa của các tác giả nói trên. Công việc không tiêu chuẩn là công việc thiếu đi một trong các tính chất cơ bản so với công việc thông thường khác. Điều luật cũng nhắc đến khái niệm nhân viên làm công việc không tiêu chuẩn là “nhân viên có thời gian làm việc theo quy định hàng tuần ngắn hơn so với lao động bình thường, làm việc tại cùng 11 một địa điểm kinh doanh và chế độ phúc lợi của họ ít hơn và không cố định”. Tại cuộc họp do Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) tổ chức vào tháng 2 năm 2015 với dự có mặt của nhiều chuyên gia trong lĩnh vực lao động được cử đến từ nhiều quốc gia khác nhau cũng đã thảo luận về khái niệm “công việc không tiêu chuẩn”.
Theo đó, công việc không tiêu chuẩn bao gồm nhiều dạng khác nhau bao 12 gồm việc làm tạm thời, việc làm việc bán thời gian và tự làm chủ. Việc xác định và phân biệt loại hình công việc này trên thế giới đã trở nên dễ dàng hơn, giúp cho các quốc gia tìm được tiêu chí cụ thể cho quy định về quản lý đối với công việc không tiêu chuẩn ở nước mình. 8 Nii Lante Wallace-Bruce (1997), “Non-Standard and Precarious Employment: A New Dawn”, PhD. University of Sydney, tr.
9 Diane Lim (2015), “Is it good or bad to work part time? Pros and cons for the economy”.org /blog/entry/is-it-good-or-bad-to-work-part-time-pros-and-cons-for-the-economy], (truy cập ngày 12/12/2020). 10 “Non-standard employment around the world: Understanding challenges”, Website International Labour Organization (ILO), https://www.org/global/publications/books/WCMS_534326/lang--en/ index. 204, truy cập ngày 17/3/2021. 11 Điều 2 Đạo luật về cải tiến về quản lý việc làm cho nhân viên bán thời gian Nhật Bản.
12 International Labour Organization (ILO), tlđd (10), tr. 15 Tại Việt Nam, trong khoa học pháp lý còn thiếu vắng những nghiên cứu về công việc không tiêu chuẩn. Bộ luật Lao động năm 2012 và BLLĐ năm 2019 có đưa ra một khái niệm có nội hàm liên quan đến công việc không tiêu chuẩn. Khoản 1 Điều 34 BLLĐ năm 2012 đưa ra định nghĩa về “NLĐ làm việc không trọn thời gian”.
Theo điều luật này, NLĐ làm việc không trọn thời gian là “người lao động có thời gian làm việc ngắn hơn so với thời gian làm việc bình thường theo ngày hoặc theo tuần được quy định trong pháp luật về lao động, thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp, thỏa ước lao động tập thể ngành hoặc quy định của người sử dụng 13 lao động”. Theo đó, cơ sở pháp lý để xác định làm việc không trọn thời gian là quy định của PLLĐ, quy định trong thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp, thỏa ước lao động tập thể ngành hoặc các quy định nội bộ khác của NSDLĐ về quy định thời gian làm việc bình thường trong một ngày, trong một tuần đối với từng loại công việc. Khi NLĐ làm việc ngắn hơn so với thời gian làm việc bình thường đã được quy định theo sự thỏa thuận của hai bên thì được coi là làm việc không trọn thời gian. Chẳng hạn: Thời gian làm việc bình thường được quy định là 8 giờ/ngày, nếu NLĐ giao kết hợp đồng lao động với doanh nghiệp để làm việc 5 giờ/ngày thì được gọi là làm việc không trọn thời gian.
Hoặc thời gian làm việc bình thường được quy định là 48 giờ/tuần, nếu NLĐ giao kết hợp đồng lao động với doanh nghiệp để làm việc 45 giờ/tuần thì được gọi là làm việc không trọn thời gian. Ngoài ra, Bộ luật này cũng quy định một dạng thức khác của công việc không tiêu chuẩn khác như giúp việc gia đình.