Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung. Chương 2: Pháp luật Hải quan Việt Nam thực hiện các yêu cầu của tự do hóa thương mại trong trong tương quan so sánh với các định chế liên quan đến Hải quan của WTO. Chương 3: Giải pháp đề xuất hoàn thiện pháp luật Hải quan Việt Nam nhằm thực hiện tốt yêu cầu của tự do hóa thương mại và nghĩa vụ thành viên WTO. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG 1.
TỰ DO HÓA THƢƠNG MẠI VỪA LÀ MỤC TIÊU ĐẦU TIÊN VÀ CHÍNH YẾU, VỪA LÀ MỘT TRONG NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA KHUNG PHÁP LUẬT WTO Tự do hóa thương mại là nội dung chính trị xuyên suốt toàn bộ định chế và thể chế pháp lý của hệ thống thương mại đa phương WTO hiện đang chiếm tới trên 98% giao dịch thương mại quốc tế từ mục tiêu cho tới các nguyên tắc cơ bản quan trọng nhất, cũng như các quy định cụ thể trong các hiệp định, tuyên bố, quyết định được ban hành bởi tổ chức này. WTO đặt ra mục tiêu hoạt động là thúc đẩy tự do hóa thương mại quốc tế thông qua việc loại bỏ các rào cản trong thương mại, với một trong những nguyên tắc quan trọng là "mở cửa thị trường" thể hiện nội dung chính trị "tự do hóa thương mại" hướng tới viễn cảnh tạo lập và phát triển một hệ thống thương mại toàn cầu được hoàn toàn mở cửa. "Thương mại quốc tế" (International Trade) được định nghĩa là việc trao đổi qua biên giới quốc gia (hoặc lãnh thổ hải quan) hàng hóa, dịch vụ, yếu tố sản xuất (lao động và vốn). Theo WTO, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cũng là một nội dung của thương mại quốc tế [61, tr.
Mục tiêu thúc đẩy tự do hóa thƣơng mại của hệ thống GATT/WTO Tự do hóa thương mại là một phần nội dung của một trong bốn cấu phần của tầm nhìn trật tự thế giới mới được hình thành vào cuối Chiến tranh thế giới lần thứ hai gắn với việc thành lập Tổ chức Thương mại Quốc tế (ITO), thể chế quốc tế thực hiện ý tưởng công bằng kinh tế quốc tế, với tư cách là tổ chức chuyên môn của Liên hợp quốc. Tuy nhiên, sau đó, ITO không được thành lập do Mỹ không tán thành ý tưởng xây dựng "công bằng kinh tế 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quốc tế" nên đã không phê chuẩn dự thảo Hiến chương La Havana thành lập tổ chức này. GATT (General Agreement on Tarriffs and Trade, Hiệp định chung về thuế quan và thương mại) được 23 nước ký kết ngày 30/10/1947 (có hiệu lực ngày 01/01/1948) để thúc đẩy tự do thương mại thông qua tự do hóa thương mại quốc tế, đã kế thừa chính sách thương mại của dự thảo Hiến chương La Havana năm 1947, chủ yếu bao gồm các hiệp định về giảm thuế quan (thuế nhập khẩu) và những hạn chế khác đối với tự do thương mại. Tuy nhiên trên thực tế, chỉ có những nước giàu đã công nghiệp hóa tham gia GATT.
Với số lượng các quốc gia chấp nhận hạn chế như vậy, GATT đã không thúc đẩy được sự tiến bộ của các chính sách công cũng như không đạt được các mục tiêu lớn hơn của cộng đồng quốc tế. Sự tồn tại của GATT không đáp ứng được yêu cầu của thực tế, không thỏa mãn được quyền lợi của các nước mới gia nhập Liên hợp quốc sau khi giành được độc lập, đã đặt ra một vấn đề cần phải sửa đổi các quy định của hiệp định này để hoàn thiện việc tái thiết kế nền kinh tế thế giới kể từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ II. Trải qua 8 vòng đàm phán là Geneva 1947, Annecy 1949, Torquay 1951, Geneva 1956, Dillon 1960 - 1961, Kennedy 1964 - 1967, Tokyo 1973 - 1979 và Urugoay 1986 - 1994, sau 47 năm tồn tại, các thiết chế hiện có của GATT đã biểu lộ tình trạng không đủ sức giải quyết các tranh chấp trong các quan hệ kinh tế quốc tế phát sinh đối với nhiều vấn đề mới vượt xa khuôn khổ của GATT. Cuối cùng, tại vòng đàm phán thương mại đa phương thứ 8 - vòng Urugoay, các bên tham gia thương lượng đã đạt được một loạt các thỏa thuận quan trọng liên quan tới các lĩnh vực khác nhau (trong thương mại như nông nghiệp, dệt may; liên quan tới thương mại như: sở hữu trí tuệ, đầu tư nước ngoài và khu vực dịch vụ), đi tới ký kết Hiệp ước Marrakesh tại Marrakesh (Ma-rốc) - Hiến chương của WTO vào ngày 15/4/1994 với sự tham gia kết ước của 124 Chính phủ và Cộng đồng Châu Âu, chính thức thành lập WTO, thiết chế mới tiếp tục và thay thế GATT từ ngày 01/01/1995.
13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Mục tiêu chính của luật WTO vẫn là thúc đẩy tự do hóa thương mại quốc tế. Các công cụ được lựa chọn thuộc hệ thống GATT/WTO để đạt được mục tiêu tự do hóa thương mại gồm: (1) Nguyên tắc MFN (Most favoured nation, quốc gia được ưu tiên nhất); (2) đối xử cấp quốc gia (NT, National Treatment); (3) Nhân nhượng lẫn nhau; và (4) Không phân biệt đối xử (Điều III, Hiệp ước Marrakesh thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới, 1994; Điều I, II và III của GATT 1947). Nguyên tắc và nội dung tự do hóa thƣơng mại Nguyên tắc "Thương mại ngày càng tự do hơn thông qua đàm phán" Cùng với các nguyên tắc khác như: Không phân biệt đối xử thông qua Quy chế tối huệ quốc (MFN) và Quy chế đối xử quốc gia (NT); minh bạch chính sách, dễ dự báo, dự đoán; khuyến khích cạnh tranh công bằng; khuyến khích cải cách kinh tế và phát triển, thì thương mại ngày càng tự do hơn thông qua đàm phán là một trong năm nguyên tắc cơ bản được ghi nhận xuyên suốt trong hệ thống các hiệp định của WTO. Tuy tồn tại dưới dạng nhiều tên gọi khác nhau, phạm vi nội hàm qua mỗi thời kỳ lịch sử có những nội dung khác nhau, nhưng nguyên tắc này vẫn hướng tới một mục tiêu thống nhất là tự do hóa nền thương mại quốc tế hiện đại.
* Sơ lược lịch sử ra đời và phát triển của nguyên tắc "Thương mại ngày càng tự do hơn thông qua đàm phán": [61, tr. 64] Đây là nguyên tắc mà GATT và WTO theo đuổi suốt quá trình hoạt động của mình. Vào thời kỳ của Hiệp định GATT 1947, tiền thân của WTO: mặc dù chỉ là hiệp định tạm thời mang tính thỏa thuận đa phương được lựa chọn, nhưng GATT đã đóng vai trò chủ chốt trong các quan hệ kinh tế quốc tế trong suốt 47 năm tồn tại. Tuy nhiên, lúc bấy giờ "Thương mại ngày càng tự do hơn thông qua đàm phán" không được coi là nguyên tắc hoạt động chủ yếu của GATT.
Nguyên tắc hoạt động chủ yếu của GATT lúc bấy giờ là "đồng thuận" 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vì GATT không phải là tổ chức, chỉ là hiệp định, trong đó đòi hỏi các thành viên tham gia phải chấp nhận các cam kết ở các mức độ khác nhau trong khuôn khổ đa phương và song phương. GATT đã thể hiện vai trò chủ chốt của mình để góp phần vào Tự do hóa thương mại bằng quá trình cắt giảm thuế quan, bãi bỏ những hạn chế về thương mại và chống phân biệt đối xử về kinh tế trong buôn bán giữa các nước, nhưng chỉ mới áp dụng đối với thương mại hàng hóa. GATT 1947 đã trải qua một loạt sửa đổi trong hai thập niên 1960 và 1970 để cố gắng đảm đương tốt vai trò điều tiết nền thương mại quốc tế. Vào cuối những năm 1970 một phần mới là Phần IV - "Hệ thống tổng quát các ưu tiên" (GSP) được áp dụng nhằm ủng hộ các nước đang phát triển đã được bổ sung vào GATT để giải quyết nguy cơ GATT có thể không còn nhận được sự tham gia của nhiều nước đang phát triển vì không giải quyết được vấn đề kinh tế của các nước này sau khi họ giành được độc lập và tái thiết kinh tế.
GSP là chế độ tối huệ quốc đặc biệt của các nước công nghiệp phát triển dành cho các nước đang và chậm phát triển. Bản chất của chế độ GSP là các nước công nghiệp phát triển sẽ áp dụng chế độ miễn thuế hoặc thuế rất thấp cho hàng hóa của các nước đang phát triển, nhằm giúp hàng hóa của các nước này có điều kiện thâm nhập được vào thị trường các nước phát triển. Tại vòng đàm phán cuối cùng của GATT là vòng đám phán Urugoay 1993, nhiều vấn đề của tự do hóa thương mại đã được mở rộng hơn nhiều so với GATT như phần tự do hóa dịch vụ, sở hữu trí tuệ và cơ chế giải quyết tranh chấp bảo đảm cho tự do hóa thương mại được thực thi linh hoạt hơn. Đây chính là bước ngoặt để từ đây GATT hoàn tất vai trò lịch sử của mình, mở ra một thời kỳ hoàn toàn mới của nền thương mại quốc tế.
Thời kỳ bắt đầu từ khi WTO đƣợc thành lập: Chỉ sau khi vòng đàm phán Urugoay 1986 - 1994 kết thúc ít lâu, vào ngày 01/01/1995, WTO đã thực sự thay thế GATT, hình thành nên một thể chế thương mại quốc tế và khung pháp lý đồ sộ bao gồm hệ thống 16 hiệp định đa phương và 02 hiệp định nhiều bên (điều chỉnh các đối tượng, các hoạt động trong các lĩnh vực: 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thương mại hàng hóa; thương mại dịch vụ; đầu tư liên quan đến thương mại; bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại; cơ chế giải quyết tranh chấp; rà soát chính sách thương mại). Khung pháp lý này đã vận dụng các nguyên tắc cơ bản của WTO để điều chỉnh nền thương mại quốc tế theo mục tiêu trước tiên là "tự do hóa". "Thương mại ngày càng tự do hơn thông qua đàm phán" là một trong năm nguyên tắc cơ bản của WTO (04 nguyên tắc còn lại là: (1) Không phân biệt đối xử thông qua Quy chế tối huệ quốc (MFN) và Quy chế đối xử quốc gia (NT); (2) Minh bạch chính sách, dễ dự báo, dự đoán; (3) Khuyến khích cạnh tranh công bằng; và (4) Khuyến khích cải cách kinh tế và phát triển). * Nội dung của nguyên tắc "Thương mại ngày càng tự do hơn thông qua đàm phán" thời kỳ này đặt trọng tâm hiệu quả mục tiêu vào đàm phán song phương và đa phương của các thành viên WTO để giảm dần tiến tới dỡ bỏ các rào cản thương mại (thuế, rào cản phi thuế quan như hạn ngạch, định lượng nhập khẩu, giấy phép.) ngoại trừ những "rào cản kỹ thuật" ở mức phù hợp liên quan đến bảo vệ sức khỏe, môi trường, động thực vật, bảo đảm an ninh.