Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ RA NƯỚC NGOÀI TRONG LĨNH VỰC VIỄN THÔNG 1. Đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh vực viễn thông 1. Khái niệm đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh vực viễn thông 1. Khái niệm đầu tư ra nước ngoài Trong xu hướng phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới, hoạt động đầu tư ra nước ngoài là xu thế tất yếu, đồng thời là lựa chọn phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế hiện nay nhằm tận dụng nguồn tài nguyên của địa bàn tiếp nhận vốn đầu tư, mở rộng thị trường, đẩy mạnh quảng bá, tiếp thị hình ảnh của nước đầu tư đến các nước khác nhau trên thế giới.
Để làm rõ khái niệm đầu tư ra nước ngoài trước hết cần tìm hiểu một số cách hiểu về đầu tư. Theo cách hiểu phổ thông, đầu tư là việc “bỏ nhân lực, vật lực, tài lực vào công việc gì, trên cơ sở tính toán hiệu quả kinh tế, xã hội” [42, tr. Trong khoa học kinh tế, đầu tư được quan niệm là hoạt động sử dụng các nguồn lực hiện tại, nhằm đem lại cho nền kinh tế, xã hội những kết quả trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được các kết quả đó [39, tr. Các nguồn lực được chủ thể đầu tư (cá nhân, tổ chức) sử dụng để đầu tư có thể là tiền, tài nguyên thiên nhiên, sức lao động, trí tuệ.
Mục đích của hoạt động đầu tư không những mang lại những lợi ích trực tiếp cho nhà đầu tư như tăng thêm tài sản vật chất, tài sản trí tuệ… mà còn mang lại lợi ích chung cho nền kinh tế và cho toàn xã hội. Khái niệm đầu tư được quy định trong Luật Đầu tư 2005 như sau: Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các tài sản hữu hình và vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan. 6 Luật Đầu tư 2014 đưa ra khái niệm đầu tư kinh doanh như sau: Đầu tư kinh doanh là việc mà nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn của của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư. Do đó, có thể hiểu một cách khái quát về đầu tư như sau: “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn để tiến hành các hoạt động kinh doanh nhằm mục đích thu về cho nhà đầu tư các kết quả nhất định lớn hơn nguồn vốn đã bỏ ra”.
Xuất phát từ khái niệm đầu tư nêu trên, đầu tư ra nước ngoài cũng được hiểu theo nhiều phương diện khác nhau. Theo từ điển luật học của Viện khoa học pháp lý, khái niệm đầu tư ra nước ngoài là việc tổ chức cá nhân của một quốc gia đưa vốn dưới các hình thức khác nhau vào một quốc gia khác để tiến hành các hoạt động kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận. Đầu tư nước ngoài được thực hiện dưới hình thức đầu tư trực tiếp hoặc đầu tư gián tiếp [41]. Theo các nhà kinh tế học, dòng đầu tư quốc tế vận động dựa trên nguyên tắc lợi thế so sánh các yếu tố vốn, lao động, thị trường giữa các quốc gia, đặc biệt giữa các nước phát triển và đang phát triển.
Đầu tư quốc tế là sự di chuyển tài sản vốn, công nghệ, kỹ năng quản lý… từ quốc gia này sang quốc gia khác để kinh doanh nhằm mục đích thu lợi nhuận cao trên phạm vi toàn cầu cho các bên tham gia [29, tr. Theo lý luận Mác- Lênin, hiện tượng xuất khẩu tư bản (đầu tư ra nước ngoài) có nguyên nhân là vì một số nước có hiện tượng “thừa tư bản”, nhưng lại thiếu địa bàn đầu tư có lợi. Hiện tượng “thừa tư bản” được hiểu là thừa tương đối khi đầu tư trong nước có tỷ suất lợi nhuận thấp hơn so với tỷ suất lợi nhuận đầu tư ở nước ngoài. Các nền kinh tế lạc hậu có tỷ suất lợi nhuận nhưng rất thiếu tư bản để đầu tư phát triển kinh tế, đổi mới kỹ thuật và công 7 nghệ.
Sự gặp nhau giữa các nước xuất khẩu và nước tiếp nhận tư bản đã hình thành đầu tư ra nước ngoài. Nếu thương mại quốc tế là sự di chuyển kết quả của quá trình sản xuất trên quy mô quốc tế để thu lợi nhuận thì đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là sự di chuyển chính điều kiện sản xuất giữa các quốc gia để thu lợi nhuận [1, tr. Trên phương diện pháp lý, đầu tư ra nước ngoài từ khi xuất hiện ở Việt Nam cho đến nay, đã có nhiều định nghĩa khác nhau. Tại Khoản 1 Điều 1 Nghị định số 22/1999/NĐ-CP của Chính phủ ngày 14/4/1999 quy định về đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam quy định: Đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam là việc doanh nghiệp Việt Nam đưa vốn bằng tiền, tài sản khác ra nước ngoài để đầu tư trực tiếp ở nước ngoài theo quy định của pháp luật.
Luật Đầu tư 2005 quy định tại Khoản 14 Điều 3: “Đầu tư ra nước ngoài là việc nhà đầu tư đưa vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác từ Việt Nam ra nước ngoài để tiến hành hoạt động đầu tư”. Mới đây nhất, tại Nghị định số 83/2015/NĐ-CP ngày 25/9/2015 của Chính phủ Quy định về đầu tư ra nước ngoài đã đưa ra định nghĩa, cụ thể: “Đầu tư ra nước ngoài là việc nhà đầu tư chuyển vốn; hoặc thanh toán mua một phần hoặc toàn bộ cơ sở kinh doanh; hoặc xác lập quyền sở hữu để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh ngoài lãnh thổ Việt Nam; đồng thời trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư đó”. Như vậy, các khái niệm trên đều bàn đến việc chuyển vốn từ một nền kinh tế này sang một nền kinh tế khác để thực hiện hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, có thể hiểu một cách khái quát đầu tư ra nước ngoài là việc nhà đầu tư đưa vốn từ quốc gia này sang quốc gia khác để tiến hành các hoạt động đầu tư nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận, mục tiêu kinh tế xã hội khác.
Khái niệm đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh vực viễn thông Trong những năm qua, ngành viễn thông đã liên tục phát triển, trở thành 8 ngành kinh tế mũi nhọn, ngành công nghệ cao đóng vai trò động lực cho việc thúc đẩy các ngành khác trong nước. Bên cạnh đó, viễn thông là một trong những lĩnh vực đầu tư ra nước ngoài điển hình. Xuất phát từ tầm quan trọng của viễn thông, việc phát triển viễn thông trong nước và quốc tế là nhu cầu thiết yếu của quốc gia. Theo tổ chức Thương mại thế giới (WTO), viễn thông là việc truyền dẫn thông tin giao tiếp qua khoảng cách địa lý [22, tr.
Theo tổ chức Liên minh Viễn thông thế giới (ITU), viễn thông là tất cả sự chuyển tải, truyền dẫn hoặc thu phát các ký hiệu, tín hiệu, chữ viết, âm thanh, hình ảnh, giọng nói, dữ liệu qua các dây dẫn, sóng vô tuyến, cáp quang, các phương tiện vật lý hoặc các hệ thống điện từ khác [22, tr. Theo Luật Viễn thông năm 2009 tại Khoản 1 Điều 3 có quy định: Viễn thông là việc gửi, truyền, nhận và xử lý ký hiệu, tín hiệu, số liệu, chữ viết, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng thông tin khác bằng đường cáp, sóng vô tuyến điện, phương tiện quang học và phương tiện điện từ khác. Từ những khái niệm trên, có thể hiểu khái quát viễn thông là việc gửi, truyền, tiếp nhận, xử lý thông tin bằng các phương tiện khác nhau. Hoạt động viễn thông là hoạt động cung cấp các dịch vụ viễn thông như gửi, truyền, nhận và xử lý thông tin.
Xuất phát từ những khái quát trên về viễn thông và khái niệm về đầu tư ra nước ngoài, mặc dù các văn bản pháp luật đầu tư không đưa ra định nghĩa đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh vực viễn thông nhưng có thể hiểu đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh vực viễn thông là việc nhà đầu tư đưa vốn từ quốc gia này sang quốc gia khác để tiến hành các hoạt động đầu tư dịch vụ viễn thông như gửi, truyền, nhận và xử lý thông tin nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận, mục tiêu kinh tế xã hội khác. Đặc điểm của đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh vực viễn thông Đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh vực viễn thông mang những đặc điểm của đầu tư ra nước ngoài nói chung, được thể hiện ở một số điểm như sau: Thứ nhất, đầu tư ra nước ngoài có sự di chuyển tài sản giữa các quốc gia, làm tăng lượng tài sản của nền kinh tế tiếp nhận và làm giảm lượng tài sản của nước đầu tư. Nguồn vốn đầu tư có sự chuyển dịch qua biên giới của nước đầu tư để chuyển sang nước tiếp nhận đầu tư. Nguồn vốn này được xuất phát từ nước đầu tư và được chuyển dịch sang nước tiếp nhận đầu tư để thực hiện hoạt động đầu tư.
Thứ hai, mục đích đầu tư ra nước ngoài nhằm tìm kiếm doanh thu, lợi nhuận, mở rộng, chiếm lĩnh thị trường. Đầu tư ra nước ngoài là hoạt động nhà đầu tư tìm kiếm cơ hội tại các thị trường khác ngoài thị trường trong nước, đưa các sản phẩm, dịch vụ của mình vào thị trường thế giới. Mục đích hàng đầu khi các nhà đầu tư thực hiện đầu tư ra nước ngoài chính là tìm kiếm doanh thu, lợi nhuận. Bên cạnh đó, khi đầu tư ra nước ngoài nhà đầu tư còn có các mục đích khác như mở rộng thị trường, phát triển thương hiệu, quảng bá hình ảnh sản phẩm dịch vụ của mình, tận dụng những nguồn tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân công tại nước tiếp nhận đầu tư.
Thứ ba, hoạt động đầu tư ra nước ngoài được thực hiện bằng nguồn vốn của chính nhà đầu tư, nhà đầu tư chịu trách nhiệm về nguồn vốn của mình. Nguồn vốn của nhà đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư ra nước ngoài có thể là tiền, công nghệ hoặc tài sản khác. Thứ tư, hình thức đầu tư ra nước ngoài có thể được thực hiện dưới hình thức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài và đầu tư gián tiếp ra nước ngoài. Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là hình thức đầu tư mà nhà đầu tư mang vốn của mình vào nước tiếp nhận đầu tư để hình thành các dự án đầu tư tại nước tiếp nhận đầu tư và trực tiếp quản lý dự án đầu tư tại nước tiếp nhận đầu 10 tư.