phần Mở đầu, phần Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Danh mục từ viết tắt, Mục lục, Luận văn đƣợc chia làm 03 chƣơng, cụ thể: Chƣơng 1. Những vấn đề lý luận cơ bản về Pháp luật chống bán phá giá trong thƣơng mại quốc tế Chƣơng 2. Một số quy định cơ bản của WTO về chống bán phá giá và mức độ tƣơng thích của pháp luật Việt Nam Chƣơng 3. Thực tiễn chống bán phá giá của một số nƣớc, những đề xuất cho việc hoàn thiện pháp luật và đối phó với với các vụ kiện chống bán phá giá của Việt Nam 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ TRONG THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ 1.
Bán phá giá trong thƣơng mại quốc tế 1.Khái niệm Bán phá giá đƣợc xem là hiện tƣợng xuất hiện khá sớm trong thực tiễn thƣơng mại quốc tế. Mặc dù còn có những quan điểm khác nhau, song pháp luật các nƣớc đều coi đây là một trong những hành vi thƣơng mại không lành mạnh. Trong ngôn ngữ thông thƣờng, bán phá giá đƣợc hiểu là: “. tổng hợp những biện pháp bán hạ giá một số mặt hàng xuất khẩu nào đó để cạnh tranh nhưng có hiệu quả với bạn hàng khác trên thị trường thế giới.
Mục tiêu là đánh bại đối thủ, chiếm lĩnh thị trường ngoài nước hoặc kiếm ngoại tệ khẩn cấp, có khi cả mục tiêu chính trị. Những hình thực cổ điển là chiếm độc quyền sản xuất, buôn bán và lũng đoạn giá cả. Để BPG, các tổ chức độc quyền có thể dựa vào chính sách nhà nước: hỗ trợ xuất khẩu bằng trợ giá, miễn, giảm thuế, hạ thấp tiền lương của công nhân. Đặc trưng của hình thức BPG là bán theo giá rẻ, thậm chí thấp hơn cả giá thành.
Sau khi đối thủ bị đánh bại, các tổ chức độc quyền chiếm thị trường và nâng giá lên (giá độc quyền) để thu lợi nhuận cao. BPG dẫn đến những hậu quả: sản xuất của các nước nhập hàng BPG bị đình đốn vì không cạnh tranh nổi với hàng nhập; nước bán phá giá chịu gánh nặng về trợ giá xuất khẩu; gây không khí chiến tranh thương mại, làm rối loạn thị trường thế giới;…”, [12] 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong các văn bản pháp luật, theo khoản 3, Điều 4, Pháp lệnh Giá năm 2002 thì “ bán phá giá là hành vi bán hàng hóa, dịch vụ với giá quá thấp so với giá thông thường trên thị trường Việt Nam để chiếm lĩnh thị trường, hạn chế cạnh tranh đúng pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh và lợi ích của nhà nước” [7, Đ4], tuy nhiên định nghĩa bán phá giá này chỉ đề cập đến hàng hóa, dịch vụ đƣợc sản xuất trong nƣớc và việc bán phá giá tại thị trƣờng trong nƣớc (còn gọi là bán phá giá trong thƣơng mại nội địa). Khi Pháp lệnh Chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam đƣợc Quốc hội thông qua ngày 29/4/2004, theo Điều 2, khoản 2 thì “Biên độ phá giá là khoảng cách chênh lệch có thể tính được giữa giá thông thường của hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam so với giá xuất khẩu hàng hóa đó vào Việt Nam”, ở đây điều luật không định nghĩa một cách trực tiếp khái niệm bán phá giá, nhƣng việc xác định biên độ phá giá thông qua sự so sánh giữa giá thông thƣờng (giá bán sản phẩm tƣơng tự tại thị trƣờng nƣớc nhập khẩu là chủ yếu) với giá xuất khẩu sản phẩm đó vào Việt Nam cho chúng ta thấy rằng bán phá giá là hiện tƣợng khi giá xuất khẩu một hàng hóa từ nƣớc ngoài vào Việt Nam thấp hơn giá thông thƣờng của hàng hóa đó. Trong Điều ƣớc Quốc tế, hiện nay theo quy định tại Điều 2.1 của Hiệp định thực thi Điều VI của Hiệp định chung về thuế quan và thƣơng mại 1994 còn gọi là Hiệp định về Chống bán phá giá của Tổ chức Thƣơng mại thế giới, viết tắt là ADA, nhƣ sau: “ Trong phạm vi Hiệp định này, một sản phẩm bị coi là bán phá giá (tức là được đưa vào lưu thông thương mại của một nước khác thấp hơn trị giá thông thường của sản phẩm đó) nếu như giá xuất khẩu của sản phẩm được xuất khẩu từ nước này sang một nước khác thấp hơn mức giá có thể so 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sánh được của sản phẩm tương tự được tiêu dùng tại nước xuất khẩu theo các điều kiện thương mại thông thường…”.
Quy định trên đây đã thể hiện một cách chính xác và rõ ràng rằng việc bán phá giá trong thƣơng mại quốc tế có yếu tố cơ bản đó là sự so sánh về giá ở hai thị trƣờng khác nhau: thị trƣờng nƣớc nhập khẩu và thị trƣờng nƣớc xuất khẩu, cho dù giá bán ở thị trƣờng tiêu thụ (nƣớc nhập khẩu), có thể không khác nhau, thậm chí có thể xảy ra trƣờng hợp giá bán của sản phẩm nhập khẩu còn cao hơn giá của sản phẩm tƣơng tự hiện đang đƣợc bán tại thị trƣờng nƣớc nhập khẩu. Nhìn chung, các tài liệu quốc tế đều thống nhất hiện tƣợng “bán phá giá” xảy ra khi hàng hóa xuất khẩu đƣợc bán sang một nƣớc khác (nƣớc nhập khẩu) với giá thấp hơn giá bán tại thị trƣờng nội địa (của nƣớc xuất khẩu). Nhƣ vậy, một cách khái quát nhất thì bán phá giá trong thƣơng mại quốc tế, là việc một sản phẩm đƣợc xuất khẩu từ một nƣớc này sang một nƣớc khác thấp hơn mức giá có thể so sánh đƣợc của sản phẩm tƣơng tự đƣợc bán tại nƣớc xuất khẩu theo điều kiện thƣơng mại thông thƣờng. Bán phá giá - hành vi không lành mạnh trong thƣơng mại quốc tế Trong thƣơng mại quốc tế, một sản phẩm đƣợc coi là bán phá giá khi giá xuất khẩu của sản phẩm đó thấp hơn giá thông thƣờng của sản phẩm tƣơng tự bán trong nƣớc.
Về bản chất, bán phá giá trong thƣơng mại quốc tế là hành vi phân biệt giá cả: đối với cùng một sản phẩm hoặc sản phẩm tƣơng tự, nhƣng giá xuất khẩu sang nƣớc khác (nƣớc nhập khẩu) lại thấp hơn giá tiêu thụ nội địa của nƣớc xuất khẩu. Thông thƣờng, bán phá giá luôn bị coi là một trong những hành vi thƣơng mại không công bằng, bóp méo hoạt động 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thƣơng mại bình thƣờng, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại tới ngành công nghiệp của nƣớc nhập khẩu. Chẳng hạn với mục tiêu chiếm lĩnh thị trường: Một hãng nƣớc ngoài, với mục tiêu thiết lập vị thế độc quyền ở thị trƣờng nội địa, thực hiện chính sách bán sản phẩm của mình với giá thấp hơn chi phí lề cho đến khi loại bỏ hết các đối thủ cạnh tranh khác ra khỏi thị trƣờng mặt hàng đó. Sau khi chiếm đƣợc thị trƣờng, hãng đó lại nâng giá để khai thác lợi thế độc quyền của mình.
Ngoài tác động làm cho các nhà sản xuất trong nƣớc bị phá sản, hành động này còn gây thiệt hại cho ngƣời tiêu dùng, làm giảm lợi ích của toàn xã hội nhƣ trong trƣờng hợp độc quyền khác, và do vậy cần đƣợc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá nhằm loại trừ hoặc hạn chế thiệt hại cho ngành sản xuất của nƣớc nhập khẩu. Tuy nhiên, trong một chừng mực nào đó, dƣới góc độ kinh tế, việc bán phá giá cũng đã đem lại những lợi ích nhất định: dƣới góc độ của nƣớc xuất khẩu, bán phá giá tạo điều kiện cho nhà sản xuất đẩy mạnh quá trình tiêu thụ sản phẩm, phát huy tối đa năng lực sản xuất, khả năng tăng lợi nhuận và thâm nhập thị trƣờng mới; dƣới góc độ của nƣớc nhập khẩu, ngƣời tiêu dùng có điều kiện hƣởng lợi về giá cả, đƣợc hƣởng lợi từ việc mua đƣợc hàng hóa tƣơng tự với giá rẻ. Có lẽ đây chính là một trong những lý do mà không phải bất cứ hành vi bán phá giá nào cũng đều bị lên án, bị áp dụng các biện pháp chống bán phá giá, theo quy định của WTO cũng nhƣ của pháp luật các nƣớc hiện nay. Vì trong quan niệm của các quốc gia, việc "bán phá giá" thƣờng đƣợc coi là có tác động tiêu cực, do bị coi là nguyên nhân làm giảm lợi nhuận của những ngƣời bán hàng khác hoặc gây thiệt hại cho các nhà sản xuất cùng một mặt hàng của nƣớc nhập khẩu, cho nên ngƣời ta thƣờng tìm biện pháp để 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chống lại hành động này.
Ở đây, chúng ta cần phải có sự phân tích thấu đáo bản chất của mọi trƣờng hợp bán phá giá để xem có phải tất cả mọi hành động bán phá giá đều có hại hay không từ đó có biện pháp đối phó thích ứng. Một cách chung nhất, có thể hình dung các trƣờng hợp bán phá giá sau đây: thứ nhất, giá xuất khẩu thấp hơn giá thị trƣờng nội địa nƣớc xuất khẩu nhƣng vẫn cao hơn chi phí sản xuất; thứ hai, giá xuất khẩu thấp hơn chi phí sản xuất và tất nhiên là thấp hơn giá thị trƣờng trong nƣớc. Trong trƣờng hợp này còn có thể xảy ra một số tình huống khác nhau, tuỳ thuộc vào định nghĩa chi phí sản xuất: chi phí bình quân hay chi phí "chi phí lề". - Trƣờng hợp thứ nhất: giá xuất khẩu thấp hơn giá thị trƣờng nội địa nhƣng cao hơn chi phí sản xuất.
Trƣờng hợp này có thể xảy ra khi một hãng chiếm vị thế độc quyền hoặc gần nhƣ độc quyền ở thị trƣờng nội địa xuất phát từ điều kiện tự nhiên hoặc do đƣợc hƣởng lợi thế từ hàng rào thƣơng mại, nhƣng phải cạnh tranh ở thị trƣờng nƣớc xuất khẩu. Trong trƣờng hợp này, vì mục đích tối đa hoá lợi nhuận, hãng đó sẽ lợi dụng vị thế độc quyền của mình để ấn định giá bán trong nƣớc cao hơn (cao hơn nhiều chi phí sản xuất), chừng nào thị trƣờng đó còn chấp nhận đƣợc. Trong khi đó, do phải cạnh tranh ở thị trƣờng nƣớc xuất khẩu, hãng đó chỉ có thể bán với giá đang tồn tại ở thị trƣờng đó. Nhƣ vậy đã xảy ra việc bán phá giá nhƣ định nghĩa ở trên.
Nếu việc bán phá giá này không làm giá ở thị trƣờng nƣớc nhập khẩu thay đổi (do cạnh tranh ở đây hoàn hảo), sẽ không làm ảnh hƣởng đến lợi ích của nƣớc nhập khẩu, và vì thế sẽ không cần thiết phải có biện pháp chống lại. Tuy nhiên, nếu việc bán phá giá này xảy ra với một lƣợng lớn và trong thời gian dài, làm giảm giá ở thị trƣờng nƣớc nhập khẩu, sẽ gây tác động đến lợi ích của nƣớc nhập khẩu. Ngƣời tiêu dùng sẽ đƣợc lợi từ giá thấp, nhƣng 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.