Chương 1 CÁC VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ VÀ PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT 1. Các vấn đề chung về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư 1. Khái niệm Nhà nước thu hồi đất Trên thực tế, thu hồi đất là một vấn đề hết sức phức tạp và tạo nhiều bức xúc đối với người khi tài sản của mình phải chuyển sang cho người khác. Từ xa xưa, đất đai trở thành một tư liệu sản xuất vô cùng quan trọng để giúp con người tạo ra của cải vật chất phục vụ cho bản thân, gia đình và xã hội.
Dân số nước ta ngày càng tăng, diện tích đất đai thì không thể tự sinh sôi mà dường như bị thu hẹp do nhu cầu của con người ngày một cao. Chính vì giá trị đất đai ngày càng sinh lợi nên việc quản lý nhà nước đối với đất đai ngày càng phức tạp và gặp không ít khó khăn trên thực tế. Nếu các chính sách về đất đai không hợp lý, không phù hợp với lợi ích chính đáng của người dân sẽ tạo nên sự bức xúc trong nhân dân, tạo ra nhiều khiếu kiện kéo dài làm ảnh hưởng đến tình hình chính trị của đất nước. Việc Nhà nước thu hồi đất khi giải phóng mặt bằng cũng không thể thực hiện tùy tiện thực hiện mà phải tuân thủ các quy trình theo pháp luật hiện hành nhằm tạo sự đồng thuận xã hội và phát triển kinh tế xã hội được bền vững.
Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường cho rằng: "Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai của nước ta chỉ mang tính thuật ngữ,. Quyền lợi và nghĩa vụ của người sử dụng đất ở nước ta không khác so với quyền lợi và nghĩa vụ của chủ sở hữu đất đai ở các nước". Như vậy, một khi pháp luật đã thừa nhận quyền sử dụng đất là một loại quyền về tài sản của người sử dụng đất, thì khi Nhà nước thu hồi đất, Nhà nước phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho người sử dụng đất. Thuật ngữ “Thu hồi” theo cách hiểu trong Từ điển tiếng Việt “là thu về lại, lấy lại cái trước đó đã đưa ra, đã cấp phát hoặc bị mất vào tay người khác” [47, tr.
Đây là cách hiểu rất thông thường đối với một vật cụ thể, có thể đó là một 5 tài sản thuộc sở hữu của mình đã chuyển giao cho người khác nhưng không chuyển quyền sở hữu dưới hình thức cho mượn, cấp phát hoặc tuy không tự nguyện chuyển giao nhưng bị người khác chiếm đoạt bất hợp pháp. Tuy nhiên, đối với việc thu hồi đối với đất đai chúng ta lại cần nhìn nhận dưới góc độ đa chiều hơn bởi đất đai là bất động sản nên không thể dịch chuyển. Đất đai là một tài sản đặc biệt không chỉ mang giá trị về vật chất mà có thể trở nên “vô giá” khi mang giá trị tinh thần. Xuất phát từ một nguyên tắc Hiến định: Ở Việt Nam, đất đai là tài sản thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện thực hiện quyền sở hữu [27, Đ 53].
Chính vì vậy, Nhà nước thông thể đưa hay cấp phát được mà để chuyển giao được Nhà nước phải thông qua thủ tục giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, Nhà nước không chuyển giao quyền sở hữu mà chỉ chuyển giao quyền sử dụng. Để thực hiện quyền sở hữu của mình Nhà nước phải tiến hành thông qua các chủ thể sử dụng đất. Mặc dù, để có được quyền sử dụng đất, các chủ thể sử dụng đất đã phải bỏ ra khoản tiền lớn để được giao đất hoặc cho thuê đất những quyền sử dụng của họ không phải là tuyệt đối, mà “Nhà nước đại diện thực hiện quyền sở hữu” nên : “Trong trường hợp thật cần thiết do luật định vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng thì Nhà nước sẽ thu hồi đất do tổ chức, cá nhân đang sử dụng [27, Đ 54]. Về nguyên tắc, Nhà nước có đầy đủ các quyền sử dụng, hưởng lợi, quản lý và định đoạt đối với đất.
Quyền định đoạt bao gồm 2 loại quyền cơ bản: (1): Giao đất, cho thuê đất để các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng; (2): Quyền thu hồi đất đã giao hoặc cho thuê để sử dụng theo mục đích quy hoạch và quyền ưu tiên nhận chuyển nhượng đất với giá quy định để sử dụng vì lợi ích chung. Khi phát triển kinh tế-xã hội, Nhà nước cần sử dụng đất để phục vụ lợi ích chung nên cần sự chia sẻ của người dân. Bởi, Đất đai là tài sản thiết yếu không chỉ trong việc xây dựng và củng cố quốc phòng để bảo vệ tổ quốc mà còn đóng vai trò cơ bản trong phát triển kinh tế - xã hội. Đối với những lợi ích mang tính chiến lược tầm quốc gia, phục vụ cho sự phát triển của đất nước, đảm bảo lợi ích hài hòa cho người dân thì cần được ưu tiên hơn so với lợi ích cá nhân của người sử dụng đất.
6 Đối với lĩnh vực khoa học pháp lý: “Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của Luật này [30, Đ 4]”. Hay cũng có thể hiểu: “Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của NSDĐ vi phạm pháp luật về đất đai [36, Đ 3]. Từ góc độ pháp lý và thực tiễn, có thể thấy hoạt động thu hồi đất của Nhà nước có những đặc điểm sau: Thứ nhất, chủ thể thực hiện hoạt động thu hồi đất luôn là Nhà nước. Với vai trò là chủ thể đại diện sở hữu duy nhất đối với đất đai, Nhà nước thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về đất đai thông qua hoạt động điều phối đất đai.
Thu hồi đất là một trong các hoạt động điều phối đất đai quan trọng để Nhà nước thực hiện quyền quản lý của mình. Mặt khác, hoạt động thu hồi đất phải mang tính mệnh lệnh, quyền uy mà chỉ có Nhà nước thông qua các cơ quan có thẩm quyền của mình mới có đầy đủ quyền hạn để thực hiện được hoạt động này. Thứ hai, việc thu hồi đất chỉ có thể được tiến hành trên cơ sở một quyết định hành chính cá biệt có giá trị bắt buộc thi hành. Nếu NSDĐ không tự giác thi hành quyết định hành chính này thì có thể bị cưỡng chế theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, để đảm bảo tính dân chủ, khách quan trong hoạt động thu hồi đất, người bị thu hồi đất có quyền khiếu nại hoặc khởi kiện đối với quyết định thu hồi đất hoặc hành vi cưỡng chế đó. Thứ ba, đối tượng bị thu hồi là QSDĐ, có thể là hợp pháp như được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, nhận chuyển nhượng, thừa kế QSDĐ … hoặc cũng có thể là bất hợp pháp như lấn chiếm đất chưa sử dụng. Hệ quả của thu hồi đất là làm chấm dứt QSDĐ của người có đất bị thu hồi. Thứ tư, chủ thể bị thu hồi có thể là bất kỳ chủ thể sử dụng đất nào có đất thuộc diện bị thu hồi bao gồm: Hộ gia đình, cá nhân, tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài, cơ sở tôn giáo, cộng đồng dân cư.
7 Từ những phân tích trên, khái niệm “Nhà nước thu hồi đất” có thể hiểu là: việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại QSDĐ của người được Nhà nước trao QSDĐ, QSDĐ của người đang sử dụng đất hoặc thu lại QSDĐ của NSDĐ vi phạm pháp luật về đất đai. Khái niệm bồi thường khi nhà nước thu hồi đất Khi các công trình xây dựng nhằm phục vụ cho lợi ích quốc phòng, an ninh, lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia được triển khai thì Nhà nước cần phải có mặt bằng để thực hiện dự án. Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước với tư cách là người quản lý sẽ ra quyết định thu hồi quyền sử dụng đất của người dân hoặc đất được Nhà nước giao để quản lý. Trong trường hợp người bị thu hồi đất, quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất trực tiếp bị xâm hại gây ra những thiệt hại không nhỏ về vật chất và tinh thần.
Họ có thể mất đi nơi sản xuất, kinh doanh, mất chỗ ở, nơi thờ tự. làm cuộc sống của họ bị xáo trộn. Với quan niệm truyền thống của người Việt Nam “an cư lạc nghiệp” thì mảnh đất bị thu hồi thực sự có giá trị “vô giá” không thể chỉ bù đắp bằng giá trị vật chất. Chính vì vậy Nhà nước phải có chính sách bồi thường để đảm bảo lợi ích chính đáng của người dân khi đã lấy đi tài sản đã gắn bó với họ.
Thuật ngữ “bồi thường” đã nên quen thuộc trong đời sống hàng ngày, “bồi thường” được hiểu là khi một người có hành vi gây thiệt hại cho người khác và họ phải có trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại do hành vi của mình gây ra. Bồi thường thu hồi đất cũng có thể được hiểu là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất. Cũng là thuật ngữ “bồi thường” nhưng theo Từ điển tiếng Việt thì:“Bồi thường nghĩa là đền bù bằng tiền những thiệt hại về vật chất và tinh thần mà mình phải chịu trách nhiệm” [47, tr. Còn theo Từ điển Luật học “Bồi thường là bù đắp những thiệt hại về vật chất, tinh thần do mình gây ra cho người khác do không thực hiện nghĩa vụ, thực hiện chậm, thực hiện không đầy đủ một nghĩa vụ dân sự hoặc do vi phạm pháp luật” [48, tr.
Như vậy, Cả hai khái niệm trên đều phù hợp với nguyên tắc chung của bồi thường theo quy định của pháp luật dân sự đó là: 8 việc bồi thường chỉ đặt ra khi đáp ứng các điều kiện: (i) Có hành vi trái pháp luật; (ii) Có lỗi [34, Đ 604]; (iii) Có thiệt hại thực tế xảy ra; (iv) Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra. Như vậy, “Bồi thường” là sự đền trả lại những thiệt hại mà chủ thể gây ra một cách tương xứng, trong quy hoạch xây dựng thiệt hại gây ra có thể là thiệt hại về vật chất và thiệt hại phi vật chất.