Chương 1 và Chương 2 của Luận văn vì tính ứng dụng cao, dùng để liệt kê các điều khoản cơ bản, vai trò, vị trí của HĐGKTX; các quyền của NTD và các phương thức để giao kết hợp đồng, giải quyết tranh chấp phát sinh. Mặc dù phương thức này không mang tính mở nhưng đem lại sự minh bạch, rõ ràng cho người đọc. Phương pháp tổng hợp: từ các phân tích, bình luận và so sánh các quy định pháp luật, phương pháp tổng hợp được tác giả sử dụng để đưa ra các nhận định cụ thể về sự cần thiết tồn tại các quy định pháp luật điều chỉnh HĐGKTX; đưa ra quan điểm về những bất cập trong quy định pháp luật và các kiến nghị hoàn thiện. Phương pháp này cũng được tác giả sử dụng cuối mỗi chương để khái quát, tóm tắt kết quả nghiên cứu của từng Chương và của cả Luận văn.
Các điểm mới, các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn Về mặt lý luận, tác giả đã tiếp cận đến một loại hợp đồng khá đặc trưng của pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD Việt Nam – HĐGKTX. Khái niệm HĐGKTX, đặc trưng, vai trò và việc phân biệt với các loại hợp đồng khác đã góp phần củng cố về mặt lý luận khi tác giả tiến hành phân tích các vấn đề tổng quan của hợp đồng này. Bên cạnh đó, việc phân chia quy định pháp luật thành các nhóm giao kết – thực hiện – giải quyết tranh chấp trong HĐGKTX để tiến hành phân tích chúng là một đóng góp mới về lý luận khi nghiên cứu về lĩnh vực này. Về mặt thực tiễn, thực trạng của việc thực hiện HĐGKTX phần nào phản ánh được bức tranh chân thực về các giao dịch từ xa thông qua các phương tiện điện tử, điện thoại – điều mà pháp luật và các nghiên cứu trước đây chưa thể bắt kịp.
Từ đó, các cơ quan quản lý nhà nước có thể xem xét, đánh giá lại tính phổ biến, tính hợp lý và nguy cơ rủi ro để có phương án hướng dẫn các chủ thể có liên quan, đặc biệt là NTD, áp dụng đúng các quy định về HĐGKTX. Bên cạnh đó, các kiến nghị sửa đổi, bổ sung quy định pháp luật về HĐGKTX có thể là một nguồn tham khảo sơ cấp cho việc sửa đổi Luật bảo vệ quyền lợi NTD và các nghị định hướng dẫn liên quan đến HĐGKTX. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƢỜI TIÊU DÙNG TRONG HỢP ĐỒNG GIAO KẾT TỪ XA Trong nền kinh tế, NTD đóng vai trò trung tâm trong quá trình tiêu thụ hàng hóa cũng như sử dụng dịch vụ. Việc xác định đối tượng nào là NTD để từ đó có chính sách bảo vệ cho phù hợp đã góp phần tạo nên khung pháp lý vững chắc trong hoạt động kinh doanh thương mại hiện nay.
Nhìn chung, cho dù được pháp luật bảo vệ một cách tối đa nhưng NTD vẫn là bên yếu thế hơn trong mối quan hệ vớitổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; đặc biệt là trong những trường hợp họ không có cơ hội tiếp xúc với hàng hóa, dịch vụ và cả bên cung ứng. Không chỉ vậy, thị trường ngày càng có những chuyển động bất ngờ, pháp luật chưa thể điều chỉnh một cách kịp thời và tương xứng với các tình huống trong thực tế. Để khắc phục những rủi ro do việc không có sự tiếp xúc của hai bên trong hợp đồng, pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD đã khái quát khái niệm “hợp đồng giao kết từ xa” và nghiên cứu, làm rõ nhằm có cái nhìn toàn diện và đầy đủ hơn về loại hợp đồng đặc biệt này. Tổng quan về hợp đồng giao kết từ xa 1.
Khái quát về “hợp đồng” trong pháp luật dân sự Việt Nam Trong suốt chiều dài tồn tại của pháp luật dân sự Việt Nam, khái niệm về “hợp đồng” có nhiều sự thay đổi và được hoàn thiện qua thời gian. Sự thay đổi lớn nhất được thể hiện ngay trong câu chữ của khái niệm này trong các bộ luật dân sự của các thời kỳ (hợp đồng dân sự - hợp đồng). Nhà làm luật nhìn nhận về sự ràng buộc của hợp đồng nghiêng về mặt chủ quan của sự thỏa thuận ý chí hơn là mặt khách quan/kết quả của sự thỏa thuận đó. Việc các bên có ý chí tạo lập hệ quả pháp lý ràng buộc mình hay không hơn là việc hệ quả pháp lý ràng buộc các bên xuất phát từ sự thỏa thuận hay xuất phát 8 từ quy chế pháp lý được định sẵn bởi pháp luật.
Theo phương diện khách quan thì hợp đồng một chế định pháp lý quan trọng của pháp luật dân sự, bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực trao đổi, dịch chuyển các lợi ích vật chất, dựa trên sự cam 8 Trần Kiên, Nguyễn Khắc Thu (2019), “Khái niệm hợp đồng và những nguyên tắc cơ bản của hệ thống pháp luật Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 2+3 (378+379)/ Kỳ 1, tháng 02/2019, tr. 10 kết, thỏa thuận tự do và tự nguyện giữa các chủ thể có địa vị pháp lý bình đẳng với nhau. Còn theo nghĩa chủ quan, “hợp đồng” là một loại giao dịch dân sự làm phát sinh 9 quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia. Dưới góc độ pháp lý thì hợp đồng được định nghĩa là“… sự thỏa thuận của các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền 10 và nghĩa vụ dân sự”.
Trước khi Bộ luật Dân sự 2005 sử dụng khái niệm “hợp đồng”, Bộ luật Dân sự 1995 đã dùng khái niệm “hợp đồng dân sự” với cùng ý nghĩa đó. Sự thay đổi tên gọi trong này hàm ý rằng, Bộ luật Dân sự 2015 sẽ là văn bản xác lập nguyên tắc chung về hợp đồng, các quy định của Luật Thương mại năm 2005 hay Luật bảo vệ quyền lợi NTD 2010…. sẽ điều chỉnh các hợp đồng chuyên biệt cho từng lĩnh vực11. Sự sửa đổi này nhằm loại bỏ mọi cách hiểu không chính xác cả về mặt khoa học và trong thực tiễn về phạm vi điều chỉnh của chế định hợp đồng trong Bộ luật Dân sự, để chế định hợp 12 đồng này là nền tảng của mọi quan hệ hợp đồng trong lĩnh vực tư.
Từ định nghĩa trên, có 3 thành tố tạo nên bản chất của hợp đồng cần phải lưu ý là: Thứ nhất, bản chất của hợp đồng là sự thỏa thuận tự nguyện và sự gặp gỡ ý chí 13 của các bên. Đây là yếu tố quan trọng thể hiện bản chất của hợp đồng, là kết quả của sự đồng thuận, thống nhất ý chí của các bên khi tham gia vào quan hệ hợp đồng. Thứ hai, hợp đồng là thỏa thuận để tạo ra ràng buộc pháp lý giữa các bên. Nếu các bên có sự thỏa thuận nhưng không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ đối với nhau 14 thì không phải là hợp đồng.
Về mặt khách quan, sự thỏa thuận cần tạo ra được hệ quả 15 pháp lý thì mới có thể coi là hợp đồng. 9Trường Đại học Luật TP. HCM (2015), Giáo trình Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, PGS. TS Đỗ Văn Đại chủ biên, Nhà xuất bản Hồng Đức, tr.
10 Điều 385 Bộ luật Dân sự 2015. 11 Đoàn Thị Phương Diệp (2019), “Pháp luật hợp đồng Việt Nam nhìn ở góc độ so sánh với luật của Cộng hòa 12 Đỗ Văn Đại (2016), Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015, Nhà xuất bản Hồng Đức, tr. 13 Lê Minh Hùng (2009), “Ảnh hưởng của yếu tố hình thức đối với hợp đồng”, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 1(50)/2009, tr. 14 Trường hợp A là đơn vị vận chuyển hàng hóa từ nước ngoài về Cảng Sài Gòn, thuê B vận chuyển tiếp về kho bãi tại Quận 2, TP.
Như vậy giữa A và B phát sinh quyền cũng như trách nhiệm với nhau và với hàng hóa do mình vận chuyển (do thỏa thuận thuê tạo nên ràng buộc pháp lý). Trường hợp khác, nếu A và B đều là đối tác của bên thứ ba, thỏa thuận với nhau để thực hiện một phần của quá trình vận chuyển và chịu trách nhiệm trước 11 Thứ ba, thỏa thuận tạo lập hợp đồng chỉ có hiệu lực nếu tuân thủ các điều kiện 16 luật định. Bên cạnh việc thỏa thuận của các bên trong khuôn khổ pháp luật, chỉ được làm những điều mà pháp luật không cấm thì hợp đồng trong giao dịch dân sự còn phải 17 18 tuân thủ các điều kiện như nội dung và mục đích , hình thức hợp đồng , sự tự 19 nguyện, năng lực chủ thể …Cho dù hai bên có thỏa thuận như một dạng hợp đồng nhưng lại không tuân thủ đúng điều kiện về mặt hình thức của hợp đồng thì thỏa thuận 20 đó không có hiệu lực pháp lý. Hợp đồng giao kết từ xa 1.
Khái niệm hợp đồng giao kết từ xa Cùng với sự phát triển vượt bậc của công nghệ hiện đại, ngày nay mọi hoạt động của con người dường như đều có thể thực hiện được thông qua phương tiện điện tử. Chỉ cần một “click” chuột hoặc một cuộc gọi, việc mua đồ dùng gia đình, mua quần áo hay thậm chí việc đi chợ đều có thể thực hiện qua điện thoại hoặc internet. Việc thực hiện các thao tác từ xa đó thực tế đã tạo ra một loại hợp đồng đơn giản và được khái quát thành khái niệm “hợp đồng giao kết từ xa”. Khái niệm HĐGKTX là một khái niệm còn mới mẻ so với định nghĩa hợp đồng nói chung.
Trong tất cả các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam từ trước đến nay, HĐGKTX lần đầu tiên được xuất hiện và đề cập đến tại khoản 1 Điều 3 NĐ 99/2011/NĐ-CP như sau: “HĐGKTX là hợp đồng được ký kết giữa NTD và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thông qua phương tiện điện tử hoặc điện thoại.” bên thứ ba về hàng hóa đó thì giữa A và B không phát sinh các ràng buộc pháp lý với nhau. Lúc này thỏa thuận giữa A và B không mang bản chất của hợp đồng. 15 Trần Kiên, Nguyễn Khắc Thu, tlđd (8), tr. 16 Trường Đại học Luật TP.
HCM, tlđd (9), tr. 17 Điều 117, 118, 398 Bộ Luật Dân sự 2015. 18 Điều 119 Bộ luật Dân sự 2015. 19 Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015.
20 Ví dụ, A mua mảnh đất nền từ B và hai bên có viết giấy thỏa thuận mua bán. Tuy nhiên văn bản thỏa thuận đó không được công chứng/ chứng thực từ cơ quan có thẩm quyền theo quy định pháp luật.