CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP 1. Khái quát về bảo hiểm thất nghiệp 1. Khái niệm và đặc điểm của bảo hiểm thất nghiệp. *Khái niệm bảo hiểm thất nghiệp Bảo hiểm thất nghiệp ra đời lần đầu ở Châu Âu với sự ra đời của quỹ Bảo hiểm thất nghiệp tự nguyện tại Berne (Thụy Sĩ) vào năm 1893.
Theo Mai Thị Minh Hường (2019, Tr.13), “khi đó không chỉ người sử dụng lao động mà ngay cả người lao động có công việc chưa ổn định cũng đóng góp vào quỹ. Sau đó, để quy mô của Bảo hiểm thất nghiệp được mở rộng, nhằm tăng mức trợ cấp thất nghiệp nên đã có sự tham gia đóng góp của chính quyền địa phương và trung ương. Năm 1911, Vương quốc Anh được thông qua đạo luật đầu tiên về Bảo hiểm thất nghiệp bắt buộc và tiếp đó là một số nước khác ở Châu Âu như: Thụy Điển, Đức… sau hậu quả của cuộc tổng khủng hoảng kinh tế toàn cầu (1929-1933) một số nước Châu Âu và Bắc Mỹ đã ban hành các Đạo luật về an sinh xã hội và bảo hiểm thất nghiệp, chẳng hạn như ở Hoa Kỳ năm 1935, ở Canada vào năm 1939. Khi chiến tranh thế giới lần thứ II kết thúc, nhất là khi có Công ước số 102 (1952) của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) thì nhiều nước trên thế giới đã đưa ra chế độ bảo hiểm thất nghiệp và trợ cấp thất nghiệp”.
Cùng với sự phát triển nền kinh tế xã hội và sự quan tâm đến các vấn đề về Bảo hiểm thất nghiệp, khái niệm “thất nghiệp” và “người thất nghiệp” đã không còn xa lạ đối với người dân Việt Nam. Đối với một quốc gia được xếp vào loại dân số trẻ với nguồn nhân lực dồi dào nhưng lại bị mất cân bằng giữa cung và cầu lao động trên thị trường lao động, tình trạng cung lao động lớn hơn cầu lao động cả về quy mô và cơ cấu cũng như việc phân bổ lao động không đồng đều giữa các ngành, các địa phương như ở nước ta thì sự gia tăng của tình trạng thất nghiệp là không thể tránh khỏi. Thất nghiệp không chỉ đe dọa tới đời sống của NLĐ nói riêng mà còn gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đối với quốc gia và toàn xã hội nói chung. Ở Việt Nam, theo quy định tại Luật bảo hiểm xã hội năm 2006 thì bảo hiểm thất nghiệp được hiểu là “sự đảm bảo, thay thế, bù đắp một phần thu nhập của NLĐ 9 trong trường hợp bị mất việc làm, đang có nhu cầu tìm việc làm, đồng thời có một số biện pháp hỗ trợ người lao động để họ nhanh chóng quay lại thị trường lao động”.
Về bản chất, Bảo hiểm thất nghiệp được hiểu đơn giản là nhận một khoản tiền đảm bảo và bù đắp một phần thu nhập cho người lao động, khi người lao động bị mất việc đột ngột. Qua nhiều quá trình thực hiện, nhiều đúc kết, thực tiễn diễn ra, Việt Nam đã có sự đột phá khi mà chuyển toàn bộ chế độ của bảo hiểm thất nghiệp trong Luật Bảo hiểm xã hội 2006 vào quy định trong Luật Việc làm 2013. Khoản 4, Điều 3, Luật Việc làm 2013 đã đưa ra định nghĩa cụ thể về bảo hiểm thất nghiệp như sau: Bảo hiểm thất nghiệp là chế độ nhằm bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi bị mất việc làm, hỗ trợ NLĐ học nghề, duy trì việc làm, tìm việc làm trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm thất nghiệp [15]. Việc thay đổi khái niệm trên đã thay đổi hoàn toàn quan niệm của bảo hiểm thất nghiệp, từ việc xử lý hậu quả của thất nghiệp nhưng nay lại là chủ động trong việc chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp.
Việc này không chỉ có thể làm giảm thất nghiệp mà còn hỗ trợ người lao động tìm được việc làm nhanh chóng. Mục đích ban đầu của bảo hiểm thất nghiệp không chỉ là bù đắp thu nhập mà còn giúp người lao động quay lại thị trường lao động, tìm kiếm nguồn thu nhập bằng chính sức lao động của bản thân thông qua việc thành lập và sử dụng hợp lý quỹ tài chính - được hình thành từ chính đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động. Mức hỗ trợ thu nhập dựa trên mức đóng góp của người lao động trước khi thất nghiệp và người lao động sẽ được hỗ trợ tư vấn tìm việc, hỗ trợ học nghề,. để giúp người lao động sớm quay về thị trường lao động ngoài việc nhận được phần hỗ trợ thu nhập.
Đó là cơ chế chính của chế độ bảo hiểm thất nghiệp. Do đó, Mai Thị Minh Hường (2019, Tr.15) cho rằng: “Bảo hiểm thất nghiệp là quá trình tổ chức và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung (Quỹ bảo hiểm thất nghiệp) được hình thành do sự đóng góp của các bên tham gia (NLĐ, NSDLĐ và sự hỗ trợ của Nhà nước) nhằm hỗ trợ tài chính tạm thời dành cho những người bị mất việc làm và đáp ứng yêu cầu luật định”. * Đặc điểm của bảo hiểm thất nghiệp 10 Từ việc phân tích khái niệm bảo hiểm thất nghiệp chúng ta có thể thấy nó mang một số điểm giống với các chế độ nằm trong bảo hiểm xã hội đồng thời nó cũng mang một số đặc điểm đặc thù khác có tính chất tương đồng trong chế độ việc làm. Đầu tiên, Bảo hiểm thất nghiệp là khoản “thu nhập”, được trợ cấp tạm thời cho người lao động khi họ gặp rủi ro mất việc, mà trước đó họ có tham gia đóng góp vào quỹ bảo hiểm thất nghiệp.
Không chỉ dừng ở việc hỗ trợ thu nhập mà bảo hiểm thất nghiệp còn giúp thúc đẩy quá trình hòa nhập thị trường lao động cho những người lao động thông qua hình thức tự vấn, giới thiệu việc làm, đào tạo và nâng cao tay nghề,… Đó là mục tiêu, là mục đích ra đời của bảo hiểm thất nghiệp. Thứ hai, điểm khác biệt giữa đối tượng tham gia và đối tượng hưởng của bảo hiểm thất nghiệp. Đối với đối tượng tham gia là những người trong độ tuổi lao động, đang tham gia quan hệ lao động. Còn đối tượng hưởng lại là những người dù trong độ tuổi lao động và không còn nằm trong quan hệ lao động do một số nguyên nhân như hết hạn hợp đồng, hoàn thành công việc theo ký kết,… trước đó có tham gia đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ thời gian quy định và hiện có nhu cầu tìm việc.
Khác với bảo hiểm xã hội, đối tượng hưởng là những người đang trong mối quan hệ lao động như thuộc một số trường hợp như: ốm đau, thai sản,… Thứ ba, Bảo hiểm thất nghiệp ngoài việc thu – chi nguồn phí theo quy định nhằm chi trả trợ cấp cho người lao động được hưởng trợ cấp mà còn dùng các biện pháp tái hòa nhập để người lao động có thể tiếp tục làm việc và có nguồn thu ổn định, sinh hoạt phí hằng ngày được đảm bảo. Chính vì vậy, cơ quan chuyên trách không chỉ thực hiện bước nộp đăng ký hưởng trợ cấp mà còn thực hiện công tác, chức năng giới thiệu, tư vấn, đào tạo nghề,…Khác với bảo hiểm xã hội chỉ thực hiện chức năng thu – chi trợ cấp thuần túy theo quy định. Thứ tư, việc xác định được đối tượng được hưởng trợ cấp thất nghiệp khó hơn so với các chế độ an sinh khác. Việc xác định và xác minh giữa việc người lao động có việc làm và chưa có việc làm, có thu nhập và chưa có thu nhập trong thực tế là rất khó xác mình.
Vì thực chất việc này đến từ sự tự giác và trách nhiệm của người lao động và cả cơ quan chuyên trách. Do đó, trong thực khó xác định đúng các đối tượng phù hợp để chi trả trợ cấp thất nghiệp. Bản chất của Bảo hiểm thất nghiệp. Về bản chất, Tác giả Mai Thị Minh Hường nhận định (2019, Tr.21): Bảo hiểm thất nghiệp được thực hiện trên nguyên tắc “lấy số đông bù cho số ít”, người lao động và người sử dụng lao động chỉ cần đóng một khoản nhỏ thu nhập của mình cho quỹ bảo hiểm thất nghiệp.
Bảo hiểm thất nghiệp là một chế độ nòng cốt trong hệ thống an sinh xã hội. Đồng thời mang tính chất giống bảo hiểm xã hội nhưng lại không hoàn toàn như bảo hiểm xã hội, lại mang tính chất của cơ chế việc làm. Do đó, bảo hiểm thất nghiệp cũng mang những tính chất riêng biệt: Một là, đối tượng áp dụng của bảo hiểm thất nghiệp là những người lao động bị mất việc và mong muốn hòa nhập lại thị trường lao động, nhưng ở bảo hiểm xã hội là những người đang có việc nhưng thuộc một số trường hợp theo quy định của bảo hiểm xã hội được hưởng các chế độ: thai sản, ốm đau hoặc về hưu,. Hai là, ở bảo hiểm xã hội là hỗ trợ phụ cấp, thu nhập cho đối tượng được hưởng, nhưng ở bảo hiểm thất nghiệp ngoài việc hỗ trợ thu nhập một phần, còn có hỗ trợ người lao động tìm việc làm, hỗ trợ học nghề.
Đây là điểm khác nổi bật mà người lao động nhận được khi họ bị thất nghiệp. Xét về phía người lao động, họ có thể tìm việc nhanh chóng hơn và có lại được thu nhập cố định như ban đầu. Xét về phía Nhà nước, việc hỗ trợ này góp phần thúc đẩy quá trình "thôi nhận trợ cấp" của người lao động, giảm bớt gánh nặng phát sinh chi trợ cấp từ nguồn quỹ thất nghiệp. Về phía doanh nghiệp, người sử dụng lao động không phải chi trả khoản trợ cấp quá lớn cho người lao động nếu thực hiện đầy đủ trách nhiệm đóng phí, vì thực tế, tiền trợ cấp thất nghiệp từ người sử dụng lao động bằng thời gian thực tế làm việc trừ đi thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp, do đó, đóng bảo hiểm thất nghiệp càng sớm và đủ thì khả năng chi trả trợ cấp sau này của người sử dụng lao động càng giảm.
Như vậy, bảo hiểm thất nghiệp đem lại nguồn lợi ích hợp lý cho cả ba đối tượng góp phần hình thành nguồn quỹ khi có phát sinh rủi ro xảy ra. Vai trò và ý nghĩa của bảo hiểm thất nghiệp. Bảo hiểm thất nghiệp là một hệ thống tiến bộ và có vai trò rất quan trọng ở tất cả các quốc gia. Cụ thể: Đối với NLĐ: 12 Nhằm duy trì cuộc sống ở mức cơ bản so với mức sống chung của toàn xã hội, bất kỳ NLĐ nào đều cần tìm cho mình một công việc ổn định, phù hợp với trình độ, khả năng của bản thân, nhất là những công việc càng nhẹ nhàng nhưng có mức lương cao.