Phần mở đầu Chƣơng này trình bày các nội dung bao gồm: đặc vấn đề nghiên cứu (lý do chọn đề tài); mục tiêu nghiên cứu; câu hỏi nghiên cứu; phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu; cấu trúc đề tài; đồng thời tóm lƣợc về phƣơng pháp và số liệu nghiên cứu. Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan về tài liệu Trình bày cơ sở lý thuyết liên quan nhƣ: các khái niệm, các lý thuyết nghiên cứu, tóm lƣợc các nghiên cứu trong nƣớc và ngoài nƣớc trƣớc có liên quan đến đề tài nghiên cứu. Từ đó chọn mô hình nghiên cứu cho đề tài. Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu và dữ liệu Tác giả giới thiệu về các bƣớc đƣợc thực hiện trong quá trình nghiên cứu.
Từ đó chỉ ra cách thiết kế nghiên cứu, tổng thể của nghiên cứu, nguồn dữ liệu, các công cụ nghiên cứu cơ bản, các biến xử lý đƣợc sử dụng trong nghiên cứu. Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu Chƣơng này tác giả trình bày kết quả thống kê mô tả, phân tích và kiểm định khác biệt trung bình giữa các hộ gia đình có vay vốn và không vay vốn, ƣớc lƣợng và kiểm định mô hình bằng phƣơng pháp Logit để tìm các yếu tố ảnh hƣởng đến khả năng tiếp cận vốn vay chính thức của các hộ gia đình nông thôn trên địa bàn thị xã Ngã Bảy; thực hiện phân tích các kết quả nghiên cứu. Kết luận và gợi ý các chính sách Từ những kết quả đã phân tích ở chƣơng 4, chƣơng 5 sẽ tóm lƣợc kết quả nghiên cứu chính, đƣa ra kết luận và gợi ý chính sách. Đồng thời nêu lên những hạn chế trong nghiên cứu và đề xuất các hƣớng nghiên cứu tiếp theo.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU Tác giả trình bày cơ sở lý thuyết liên quan đến khái niệm, lý thuyết nghiên cứu, kết hợp các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan về các yếu tố ảnh hƣởng đến khả năng tiếp cận vốn vay chính thức của các hộ gia đình nông thôn. Từ đó, tác giả tổng hợp các nghiên cứu và các biến làm cở sở đƣa ra mô hình nghiên cứu lý thuyết cho nghiên cứu của mình trong luận văn này. Các khái niệm liên quan Hộ gia đình: Theo Điều 106, Bộ luật Dân sự (2005), quy định: hộ gia đình là chủ thể của quan hệ dân sự khi các thành viên trong một gia đình có tài sản chung, cùng có quyền chiếm hữu sử dụng, định đoạt và cùng có trách nhiệm dân sự đối với khối tài sản đó. Nông thôn: Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2009), Nông thôn là khái niệm dùng để chỉ một địa bàn mà ở đó sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn.
Nông thôn có thể đƣợc xem xét trên nhiều góc độ: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội. Kinh tế nông thôn là một khu vực của nền kinh tế gắn liền với địa bàn nông thôn. Kinh tế nông thôn vừa mang những đặc trƣng chung của nền kinh tế về lực lƣợng sản xuất và quan hệ sản xuất, về cơ chế kinh tế. vừa có những đặc điểm riêng gắn liền với nông nghiệp, nông thôn.
Theo quy định tại Điều 3, Nghị định 55/2015/NĐ-CP ngày 09 tháng 6 năm 2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn quy định: Nông thôn là khu vực địa giới hành chính không bao gồm địa bàn của phƣờng, quận thuộc thị xã, thành phố. Tín dụng: là quan hệ vay mƣợn đƣợc biểu hiện dƣới hình thái tiền tệ hoặc hiện vật dựa trên nguyên tắc ngƣời đi vay phải hoàn trả cho ngƣời cho vay cả vốn lẫn lãi sau một thời hạn nhất định. Nguyên tắc tín dụng: Nợ vay phải đƣợc hoàn trả đầy đủ cả gốc lẫn lãi theo đúng thời hạn cam kết; Khách 8 hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích; Việc bảo đảm tiền vay phải đƣợc thực hiện theo quy định của Chính phủ và Thống đốc NHNN (Nguyễn Đăng Dờn, 2009). Chính sách tín dụng: Theo quy định tại Điều 3, Nghị định 55/2015/NĐ-CP ngày 09 tháng 6 năm 2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn quy định chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn là bao gồm một số chính sách, biện pháp của Nhà nƣớc để tạo điều kiện đối với tổ chức, cá nhân vay vốn phát triển lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, đồng thời khuyến khích các tổ chức tín dụng đẩy mạnh cho vay đối với lĩnh vực này, nhằm góp phần tái cơ cấu ngành nông nghiệp, gắn với xây dựng nông thôn mới và từng bƣớc nâng cao đời sống của nhân dân.
Tổ chức tín dụng: Theo Điều 4, Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 quy định: Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng. Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và Quỹ tín dụng nhân dân. Tín dụng chính thức: là hình thức tín dụng hợp pháp đƣợc sự cho phép của Nhà nƣớc. Các tổ chức tín dụng chính thức hoạt động dƣới sự giám sát và chi phối của Ngân hàng Nhà nƣớc.
Các nghiệp vụ hoạt động phải tuân theo luật ngân hàng nhƣ quy định về khung lãi xuất, huy động vốn, cho vay…và những dịch vụ mà chỉ có các tổ chức tài chính chính thức mới cung cấp đƣợc. Các tổ chức tín dụng chính thức bao gồm các NH thƣơng mại, NH phục vụ ngƣời nghèo (NHCSXH), Quỹ tín dụng nhân dân, các chƣơng trình trợ giúp Chính phủ (Trần Tiến Khai, 2014). Vốn vay chính thức: Ở Việt Nam, vốn vay chính thức đƣợc cung cấp cho các hộ gia đình ở khu vực nông thôn thông qua hai ngân hàng nhà nƣớc, Ngân hàng Chính sách Xã hội (NHCSXH) và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NHNN&PTNT). Nhằm mục tiêu giảm nghèo thông qua việc cung cấp các khoản vay không cần tài sản thế chấp, vay với lãi suất thấp cho 9 ngƣời nghèo nhằm mục đích đầu tƣ vào sản xuất nông nghiệp hoặc kinh doanh khác.
Các hộ gia đình đủ điều kiện vay vốn là các hộ gia đình nghèo theo tiêu chuẩn của Bộ Lao động - Thƣơng binh và Xã hội và Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và đơn xin vay vốn đƣợc chứng nhận bởi Uỷ ban nhân dân (UBND) cấp xã (Trần Tiến Khai, 2014). Lý thuyết liên quan Trong luận văn này tác giả nghiên cứu lý thuyết trƣờng phái thể chế kiểu mới: Trƣờng phái này ra đời và phát triển dựa trên những lập luận và thực tiễn giải quyết các vấn đề phát triển kinh tế ở các nƣớc đang phát triển đƣợc phân loại nhƣ sau: - Tín dụng ở nông thôn hầu hết ở các nƣớc đang phát triển đều có nét nổi bật là thông tin bất cân xứng. Trƣờng phái này coi thông tin là hàng hóa giống các hàng hóa khác “đạt đƣợc thông qua một số khoản chi phí biên tƣơng đƣơng với giá trị biên”. - Đề cập đến vấn đề tài sản thế chấp và giải pháp kiến nghị.
Nông dân luôn vấp phải những khó khăn trong vấn đề thế chấp đi vay, đặc biệt là những hộ gia đình khó khăn. Quan điểm này cho rằng vấn đề trên đƣợc giải quyết bằng vấn đề tín chấp thông qua sự đảm bảo của hợp tác xã và các nhóm nông dân đƣợc thành lập chính thức nhằm giúp đỡ những hộ gia đình khó khăn vƣợt qua tình trạng thiếu vốn. Các nhà kinh tế học thuộc trƣờng phái Ohio nhƣ Adams (1984), Pischke (1978), Gonzalez & Vega (1984) cho rằng chỉ có một bộ phận rất nhỏ của nông dân nghèo tiếp cận và sử dụng đƣợc nguồn tín dụng với lãi suất thấp ở các nƣớc đang phát triển. Những nỗ lực của hệ thống định chế TDNT thuộc khu vực chính thức ít khi mang lại lợi ích cho ngƣời nghèo vì: Yêu cầu về tài sản thế chấp nhƣ là điều kiện tiên quyết; Các định chế thƣờng giới hạn cung cấp tín dụng đến nông dân nghèo để giảm chi phí giao dịch vì chi phí giao dịch sẽ rất cao so với số tiền vay rất nhỏ và với số ngƣời mƣợn đông; Do 10 khống chế của chính sách lãi suất trần, các định chế thƣờng tìm thấy hiệu quả và ít rủi ro khi cho vay đối với nông dân có qui mô sản xuất lớn (nông dân giàu); Có nhiều ngƣời nghèo không có khả năng trả lại nợ và điều này làm ảnh hƣởng chung đến uy tín ngƣời nghèo về khả năng thanh toán.
Deaton (1992) và Attanasio (1999), bằng mô hình hóa hành vi tiêu dùng với giả thuyết thu nhập cả đời (Permanent Income Hypothesis), lập luận rằng sự khác biệt giữa thu nhập và tiêu dùng (và do đó tiết kiệm hoặc vay) đƣợc xác định bởi các hộ gia đình lựa chọn mức độ tiêu dùng tối ƣu trong từng thời kỳ, với ràng buộc ngân sách liên thời gian. Thu nhập cả đời thƣờng có dạng hình “bƣớu”: thấp ở thời gian đầu trong cuộc sống cũng nhƣ sau này khi con ngƣời hoàn toàn hoặc một phần rút khỏi thị trƣờng lao động. Do đó, mô hình này dự đoán là vay mƣợn sẽ cao hơn đối với hộ gia đình trẻ và các hộ gia đình trong độ tuổi trung niên sẽ tiết kiệm cho hƣu trí sau này. Hơn nữa, Deaton và Attanasio cũng chỉ ra rằng hành vi tiêu dùng còn bị chi phối bởi qui mô hộ gia đình cũng nhƣ đặc điểm nhân khẩu học của các thành viên và các khoản vay có thể phụ thuộc quan trọng vào sự không chắc chắn của dòng thu nhập suốt đời.
Mô hình hành vi tiêu dùng cũng chỉ ra những yếu tố khác có ảnh hƣởng tới vay tiêu dùng của hộ: hàng hóa lâu bền và khó khăn về thanh khoản. Stiglitz & Weiss (1981) cho rằng phân phối tín dụng theo cơ chế phi giá cả không chỉ là kết quả của sự can thiệp của chính phủ, mà còn từ hành vi của ngƣời cho vay và ngƣời đi vay trong môi trƣờng không cân xứng thông tin ở thị trƣờng tín dụng. Vai trò quan trọng của thông tin về ngƣời vay đối với quyết định chấp thuận của ngƣời cho vay đƣợc Hoff & Stiglitz (1993) chỉ ra qua bƣớc đánh giá mức độ tín nhiệm của ngƣời xin vay. Thông tin bất cân xứng tạo ra ít nhất hai vấn đề trong tín dụng vi mô – lựa chọn bất lợi và rủi ro đạo đức.
Lựa chọn bất lợi phát sinh trong quá trình sàng lọc, những ngƣời cho vay không phân biệt đƣợc khách hàng “tốt” và “không tốt” và vì vậy không cho những khách hàng “tốt” vay, thị trƣờng không cung cấp các khoản tín dụng đến đối tƣợng khách hàng mục tiêu.