Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Tổng quan nghiên cứu và mô hình nghiên cứu. Chương này trình bày tóm tắt một số bài báo, nghiên cứu khoa học có liên quan trước đây, giúp tác giả có cái nhìn tổng quan về vấn đề đang nghiên cứu. Đồng thời, đó sẽ là cơ sở để tác giả đề ra mô hình, phương pháp nghiên cứu cho bài viết của mình. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu.
Chương này trình bày một số định nghĩa c ng như những lý thuyết được sử dụng trong bài viết. ên cạnh đó, phương pháp, mô hình nghiên cứu c ng như các biến sử dụng trong mô hình c ng sẽ được trình bày cụ thể trong chương này. 4 Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Trong chương này, tác giả trình bày tổng quan về hệ thống doanh nghiệp trên địa bàn huyện Cờ Đỏ, thực trạng tình hình tài chính của các doanh nghiệp trong thời gian qua.
Đồng thời, tác giả tiến hành phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn huyện Cờ Đỏ. Từ đó, làm cơ sở đề ra giải pháp giúp cho các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn trong thời gian sắp tới. Chương 5: Kết uận và iến nghị. Thông qua các kết quả phân tích ở chương 4, tác giả đưa ra kết luận và một số kiến nghị đối với các cơ quan quản lý Nhà nước, các doanh nghiệp trên địa bàn huyện Cờ Đỏ.
5 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Khái niệm doanh nghiệp Theo luật doanh nghiệp số: 68/2014/QH13 được ban hành vào ngày 26 tháng 11 năm 2014 thì Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh. Doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo pháp luật Việt Nam và có trụ sở chính tại Việt Nam. Doanh nghiệp được phân loại như sau: - Công ty trách nhiệm hữu hạn bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên. Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là doanh nghiệp, trong đó: Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên không vượt quá 50; Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 48 của Luật doanh nghiệp; Phần vốn góp của thành viên chỉ được chuyển nhượng theo quy định tại các Điều 52, 53 và 54 của Luật doanh nghiệp; Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên không được quyền phát hành cổ phần.
- Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ. - Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó: Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là 03 và không hạn chế số lượng tối đa; Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 119 và khoản 1 Điều 126 của Luật doanh nghiệp; Công ty cổ phần có quyền phát hành cổ phần các loại để huy động vốn. 6 - Công ty hợp danh là doanh nghiệp, trong đó: Phải có ít nhất 02 thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung (sau đây gọi là thành viên hợp danh). Ngoài các thành viên hợp danh, công ty có thể có thêm thành viên góp vốn; Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty; Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty; Công ty hợp danh không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào.2 Khái niệm kinh doanh và hiệu quả hoạt động kinh doanh Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình, đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi (Luật doanh nghiệp năm 2014).
Hiệu quả hoạt động kinh doanh là hiệu quả của việc giữ gìn và phát triển nguồn vốn chủ sở hữu. Do đó hiệu quả hoạt động kinh doanh là vấn đề rất được các nhà đầu tư quan tâm và vì vậy mà nó là mục tiêu chủ yếu của các nhà quản trị nhất là trong trường hợp họ c ng chính là chủ sở hữu. Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh sẽ giúp các nhà quản trị định hướng đúng đắn để đầu tư và điều chỉnh nguồn vốn của doanh nghiệp một cách phù hợp. Theo V Quang Kết và Nguyễn Văn Tấn (2018), tài chính doanh nghiệp là quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp nhằm góp phần đạt tới các mục tiêu của doanh nghiệp.
Tài chính doanh nghiệp là toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp liên quan đến việc huy động, hình thành nên nguồn vốn và sử dụng vốn để tối đa hóa giá trị doanh nghiệp. Do đó hiệu quả tài chính doanh nghiệp là hiệu quả gắn liền với việc huy động hình thành nên nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn để tối đa hóa giá trị doanh nghiệp. Phân tích tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là quá trình kiểm tra, đối chiếu số liệu về tài chính thực có của doanh nghiệp với quá khứ để định hướng trong tương lai. 7 Thực chất của hiệu quả hoạt động kinh doanh là sự so sánh giữa các kết quả đầu ra với các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp trong một kỳ nhất định, tùy theo yêu cầu của các nhà quản trị kinh doanh.3 Mục tiêu phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh Đánh giá một cách toàn diện về bức tranh tài chính của doanh nghiệp.
Đồng thời, thông qua phân tích báo cáo tài chính, giúp các nhà phân tích đánh giá chính xác sức mạnh tài chính, khả năng sinh lời, tiềm năng, hiệu quả hoạt động kinh doanh, đánh giá những triển vọng c ng như những rủi ro trong tương lai của doanh nghiệp, để từ đó đưa ra những lựa chọn, những biện pháp, những quyết định cho thích hợp.4 Ý nghĩa của phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh Đánh giá đầy đủ mặt mạnh, mặt yếu trong công tác quản lý doanh nghiệp và tìm ra các biện pháp sát thực để tăng cường các hoạt động kinh tế và còn là căn cứ quan trọng phục vụ cho việc dự đoán, dự báo xu thế phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh giúp các nhà quản trị định hướng đúng để đầu tư và điều chỉnh nguồn vốn của doanh nghiệp phù hợp. Phát hiện và khai thác những khả năng tiềm tàng để mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn, đề phòng rủi ro.5 Các chỉ tiêu phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh Theo Nguyễn Trọng Cơ và Nghiêm Thị Thà (2015) thì các chỉ tiêu phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh được trình bày như sau: 2.1 Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) Suất sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE) được cho là một tiêu chuẩn phổ biến nhất dùng để đánh giá tình hình hoạt động, chẳng những đối với nhà quản trị các cấp mà còn quan trọng đối với các nhà đầu tư, các doanh nghiệp. ROE xem xét lợi nhuận ròng trên mỗi đồng tiền của vốn chủ sở hữu mang đi đầu tư, nói cách khác đó là phần trăm lợi nhuận thu được của chủ sở hữu trên vốn đầu tư của mình.
ên cạnh đó, khả năng tạo ra lợi nhuận của vốn chủ sở hữu mà doanh nghiệp sử dụng cho hoạt động kinh doanh là mục tiêu của mọi nhà quản trị, chỉ tiêu này được xác định như sau: 8 Lợi nhuận ròng ROE = Vốn chủ sở hữu Chỉ tiêu này cho biết trong một kỳ phân tích, doanh nghiệp đầu tư một đồng vốn chủ sở hữu thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp. Chỉ tiêu này có kết quả càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu và hiệu quả tài chính của doanh nghiệp càng tốt, góp phần nâng cao khả năng đầu tư của chủ doanh nghiệp và ngược lại. Đó c ng là nhân tố giúp nhà quản trị tăng vốn chủ sở hữu phục vụ cho hoạt động kinh doanh, đầu tư tài chính của doanh nghiệp.2 Tỷ lệ lợi nhuận ròng trên doanh thu (ROS): Chỉ tiêu này có ý nghĩa quan trọng hơn khi so sánh với lợi nhuận ròng của cùng kỳ năm trước. Bởi vì, sự thay đổi mức lợi nhuận có thể thay đổi hiệu quả hoạt động và chiến lược sản phẩm của doanh nghiệp.
Chỉ tiêu này cho biết mức lợi nhuận của doanh thu hay còn gọi là suất sinh lời của doanh thu, nó thể hiện một đồng doanh thu có khả năng tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng. ên cạnh đó, khả năng tạo ra doanh thu của doanh nghiệp là những chiến lược dài hạn, quyết định tạo ra lợi nhuận và nâng cao hiệu quả kinh doanh c ng như hiệu quả tài chính của doanh nghiệp. Tuy nhiên, mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp không phải là doanh thu mà là lợi nhuận sau thuế. Đó chính là kết quả thực đo lường hiệu quả kinh doanh chính xác.
Do vậy, để tăng lợi nhuận sau thuế cần phải duy trì tốc độ tăng của doanh thu nhanh hơn tốc độ tăng của chi phí, khi đó doanh nghiệp mới duy trì được sự tăng trưởng bền vững. Mặt khác, chỉ tiêu này c ng thể hiện trình độ kiểm soát chi phí của các nhà quản trị nhằm tăng sự cạnh tranh trên thị trường, chỉ tiêu này được xác định như sau : Lợi nhuận ròng ROS = Doanh thu thuần 9 Chỉ tiêu này cho biết trong một kỳ phân tích, doanh nghiệp nhận được một đồng doanh thu thuần thì sẽ thu về được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp. Như đã đề cập, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng chi phí càng tốt, hiệu quả tài chính đạt được càng cao. Đó là nhân tố giúp nhà quản trị mở rộng thị trường, tăng doanh thu.
Chỉ tiêu này thấp thì hiệu quả tài chính đạt được thấp.