Chương 1 TỎNG QUAN 1. Đất đai và quyền sử dụng đất 1. Dat đai, quản lý Nhà nước về dat đai 1. Đất đai Đoàn Văn Trường, Ngô Trí Long (1997) cho rằng: “Đất đai là thiết yếu đối với cuộc sông và sự sinh tồn của chúng ta.
Tầm quan trọng của nó làm cho đất đai trở thành trung tâm chú ý của các nhà luật sư, địa lý, sinh thái học và các nhà kinh tế. Vì mỗi điều lệ này đều liên quan tới đất đai và việc sử dụng đất, nên các xã hội, các nước và cả thế giới đều bị tác động”. Theo Lê Quang Trí (1998) “Đất đai là một thực thể tự nhiên dưới đặc tính không gian và địa hình và thường được kết hợp với một giá trị kinh tế được diễn tả dưới dang giá dat/ha khi chuyển quyền sử dụng. Rộng hơn, trên quan điểm tổng hợp và tổng thể thì cũng bao gồm cả tài nguyên sinh vật và kinh tế - xã hội của một thực thé tự nhiên”.
Luật dat đai (1993), khang định: “Đất dai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bồ các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng”. Như vậy, khi nghiên cứu khái niệm về đất đai liên quan đến định giá đất phải hiểu: Đất đai là tài sản quốc gia vô cùng quý giá và chuyên tiếp qua các thế hệ, đồng thời cũng được coi là một dạng tài sản trong phương thức tích luỹ của cải vật chất của xã hội. Đất đai là tài sản vì đất đai có đầy đủ thuộc tính của một tài sản như: Đáp ứng được nhu cầu nào đó của con người tức là có giá trị sử dụng; con người có khả năng chiếm hữu và sử dụng; là đối tượng trao đổi mua bán (tức là có tham gia vào giao lưu dân sự). nhưng chúng ta cần phải thấy rằng đất đai là loại hàng hoá không đồng nhất, đa dạng, là loại tài sản mà giá thị trường không những chỉ phản ánh bản thân giá trị của đất mà còn phản ánh vị trí và các tài sản tạo lập gắn với đất đai.
Quản lý Nhà nước về đất đai Quản ly nhà nước về đất dai là tong hợp các hoạt động của cơ quan nha nước có thâm quyền dé thực hiện va bảo vệ quyền sở hữu của Nhà nước đối với đất đai, đó là hoạt động nam chắc tình hình sử dụng đất; phân phối và phân phối lại quỹ đất theo quy hoạch, kế hoạch, kiểm tra, giám sát quá trình quản lý sử dụng đất, nguồn lợi từ đất đai (Nguyễn Khắc Thái Sơn, 2007). Nội dung quản lý Nhà nước về đất đai Nội dung quản lý Nhà nước về đất đai được quy định tại Điều 22 Luật Đất đai năm 2013 như sau: - Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dung đất đai và tổ chức thực hiện văn bản đó. - Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính. - Khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất; điều tra, đánh giá tài nguyên đất; điều tra xây dựng giá đất.
- Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. - Quản lý việc giao đất, cho thuê dat, thu hồi đất, chuyển mục dich sử dụng đất. - Quản lý việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất. - Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
- Thống kê, kiểm kê đất đai. - Xây dựng hệ thông thông tin đất đai. - Quản lý tài chính về đất đai và giá đất. - Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.
- Thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai. - Phố biến, giáo dục pháp luật về đất đai. - Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý và sử dụng đất đai. - Quản lý hoạt động dịch vụ về đất đai.
Sở hữu đất đai và quyền sử dụng đất 1. Sở hữu đất đai Theo Điều 4 luật Dat dai 2013 quy định: "Dat đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dung dat cho người sử dụng đất theo quy định của Luật này". Qua đó, ta có thé hiểu nội dung mang tính chất nội hàm của hình thức sở hữu đất đai tại Việt Nam.
Thứ nhất: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, hình thức sở hữu này không chỉ phù hop với một trong những đặc diém của mô hình nhà nước xã hội chủ nghĩa, đó là: Chế độ công hữu được xác lập đối với các tư liệu sản xuất chủ yêu), mà còn phù hợp với thực tế lich sử toàn dân đã đoàn kết đấu tranh dé giành lại toàn vẹn lãnh thổ của nước ta ngày nay. Thứ hai: Nhà nước là chủ thé đại diện cho toàn dân đề thực hiện các quyền của chủ sở hữu và thống nhất quản lý đất đai, toàn dan là một phạm trù chủ thé rat rộng, do đó, dé thực hiện được quyền của chủ sở hữu cần phải thông qua một phương thức đặc biệt. Nhà nước ta được thành lập với tính chất là “Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”, với hệ thống các cơ quan quản lý được tô chức chặt chẽ chính là phương thức để quyền sở hữu đất đai của toàn dân được thực hiện. Người dân không chỉ trực tiếp bầu ra Quốc hội - cơ quan lập pháp mà còn có quyền giám sát đối với các hoạt động của Nhà nước để đảm bảo Nhà nước thực hiện đúng những quyền hạn và trách nhiệm của mình.
Thứ ba: Người sử dụng đất (các tô chức, cá nhân.) không có quyền sở hữu đất mà chỉ có quyền sử dụng đất. Quyền sở hữu đất đai thuộc về toàn dân và do Nhà nước là chủ thê đại diện thực hiện quyền năng đó nên người sử dụng đất không thể có quyền sở hữu đối với đất. Tuy nhiên, các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân. mới là những chủ thé sử dụng đa phần điện tích dat đai trên lãnh thô Việt Nam.
Do đó, các chủ thé này được Nhà nước trao “quyền sử dung đất”; “quyền sử dung dat” cũng được Bộ luật dân sự xác định là một dang 99, 66 tài sản của các chủ thê sử dụng đất. Quyền sử dụng đất Sử dụng đất là tác động vào đất đai nhằm mang lại hiệu quả về kinh tế - xã hội. Quá trình sử dụng đất bao gồm phạm vi sử dụng đất, cơ câu và phương thức sử dụng. luôn luôn chịu sự chi phối bởi các điều kiện và quy luật sinh thái tự nhiên cũng như chịu sự ảnh hưởng của các điều kiện, quy luật kinh tế - xã hội và các yếu tố kỹ thuật.
Quyền sử dụng đất là toàn bộ các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành trong đó quy định việc bảo vệ các quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất sử dụng. “Quyền sử dụng đất của cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, chủ thể khác được xác lập do Nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất” (theo điều 688 Bộ Luật Dân sự). Quyền sở hữu và quyền sử dụng đất ngày càng trở nên được coi trọng, khi quan hệ đất đai ngày càng mở rộng và đang xen phức tạp vào mọi hoạt động kinh tế xã hội như hiện nay thì sự phối hợp giữa cơ chế sở hữu và cơ chế sử dụng đất trở thành một vấn đề nóng hồi, nảy sinh nhiều vấn đề khó khăn. Vì thế tìm ra một cơ chế phối hợp quyền sở hữu và quyền sử dụng đất hợp lý đảm bảo hài hòa các lợi ích là rất cần thiết, và nếu đạt được điều đó thì sẽ thúc đây nền kinh tế phát triển và xã hội ồn định.
Ngược lại nếu chúng ta không có cơ chế hợp lý sẽ kìm hãm sự vận động quan hệ dat dai tất yếu sẽ phát sinh mâu thuẫn gây cản trở cho bước tiễn của nền kinh tế - xã hội đất nước. Khái niệm về đất ở Theo Thông tư 08/2007/TT-BTNMT ngày 02/08/2007 quy định đất ở là đất để xây dựng nhà ở, xây dựng các công trình phục vụ cho đời sống; đất vườn ao gắn liền với nhà ở trong cùng một thửa đất thuộc khu dân cư (kế cả trường hợp vườn, ao gắn liền với nhà ở riêng lẻ) đã được công nhận là đất ở. Mục đích sử dung đất ở chính là dùng dé xây nhà kiên cô hay đúng như tên gọi của nó là dùng đất ở. Đất ở nếu như chủ sở hữu chưa muốn xây dựng nhà ở có thể dùng sử dụng dùng đề trồng cây hàng năm, trồng hoa màu mà không bị xử phạt vi phạm hành chính vì trong nghị định 102/2014/NĐ-CP không có quy định về sử phạt về hành vi này.
Giá đất và quản lý giá đất 1. Giá đất và định giá đất 1. Giá đất Tại Điều 3, Khoản 19 Luật đất đai 2013, giá đất là giá trị của quyền sử dụng đất tính trên một đơn vị điện tích. Tại Điều 3, Khoản 20 Luật đất đai 2013, Giá trị quyền sử dụng đất là giá trị bằng tiền của quyền sử dụng đất đối với một diện tích đất xác định trong thời hạn sử dụng đất xác định.
Giá đất - giá trị đất là giá trị của các quyền và lợi ích thu được từ đất đai được biểu hiện bằng tiền tại một thị trường nhất định, trong một thời điểm nhất định, cho một mục đích sử dụng nhất định trên một đơn vị diện tích. Hầu hết những nước có nền kinh tế thi trường, giá đất được hiểu là biểu hiện mặt giá trị của quyền sở hữu đất đai, hay giá đất là giá bán quyền sở hữu đất. Tuy nhiên, giá trị của đất đai không phải là giá trị của vật chất, của tài sản đất, mà giá tri cua dat dai do những thuộc tính tự nhiên và xã hội cấu thành, có thể nói đất đai là vô giá vì nó khác với mọi loại hàng hoá khác.