Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu Chương này cho thấy bối cảnh kinh doanh mua sắm trực tuyến cũng như phạm vi và khoảng trống của vấn đề cần nghiên cứu. Chương này cũng xác định mục tiêu nghiên cứu, đối tượng - phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Xem lại các khái niệm, lý thuyết và các yếu tố liên quan đến vấn đề cần nghiên cứu. Chương này cũng nêu ra một số nghiên cứu trước đây liên quan đến khái niệm nghiên cứu.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu “Cả hai phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng sẽ được vận dụng trong chương này. Nghiên cứu định tính thảo luận nhóm gồm các nhà quản 7 lý, khách hàng đang có ý định mua VPP trực tuyến dùng nhằm hiệu chỉnh các thang đo và thiết kế bảng câu hỏi. Nghiên cứu định lượng, khảo sát khách hàng có ý định mua VPP trực tuyến thông qua bảng câu hỏi.” Chương 4: Kết quả nghiên cứu “Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ 160 khách hàng đang có ý định mua VPP trực tuyến. Phần mềm SPSS được sử dụng để phân tích dữ liệu, các kỹ thuật được ứng dụng là phân tích Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích tương quan và phân tích hồi quy tuyến tính để xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến ý định mua VPP trực tuyến của khách hàng, trường hợp Cty cổ phần tập đoàn Thiên Long.” Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị Phần này tóm tắt lại các kết quả nghiên cứu và các hàm ý quản trị; đồng thời nêu ra những hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo.
8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Ý định mua hàng trực tuyến 2.1 Khái niệm ý định mua Ý định là một yếu tố dùng để đánh giá khả năng thực hiện hành vi trong tương lai. Theo Ajzen (1991), ý định là một yếu tố tạo động lực, nó thúc đẩy một cá nhân sẵn sàng thực hiện hành vi. Theo Ajzen (1991), ý định bị ảnh hưởng trực tiếp bởi “thái độ”, “chuẩn mực chủ quan” và “nhận thức kiểm soát hành vi”. Trong đó, thái độ là “đánh giá của một cá nhân về kết quả thu được từ việc thực hiện một hành vi”.
Ý định mua là những gì chúng ta nghĩ chúng ta sẽ mua, hay còn có thể được định nghĩa là quyết định hành động cho thấy được hành vi của cá nhân tùy theo sản phẩm (Samin và công sự, 2012). Dodds và cộng sự (1991) cho rằng, ý định mua thể hiện khả năng mua một sản phẩm cụ thể của người tiêu dùng. Long và Ching (2010) kết luận ý định mua tượng trưng cho những gì mà cá nhân muốn mua trong tương lai.2 Ý định mua hàng trực tuyến Ý định mua hàng trực tuyến là kế hoạch của người tiêu dùng để thực hiện hành vi mua hàng cụ thể trên Internet (Pearson và Miller, 2001). Nó cũng có thể được định nghĩa là mong muốn của người tiêu dùng để thực hiện mua hàng thực tế thông qua các cửa hàng bán lẻ trực tuyến (El-Ansary và Roushdy, 2013).
Theo Poddar và cộng sự (2009), ý định mua hàng trực tuyến có thể được sử dụng để dự đoán hành vi mua thực tế. Nó đề cập đến kết quả đánh giá của người tiêu dùng về chất lượng trang web, tính khả dụng của thông tin và sản phẩm. Ngoài ra, ý định mua hàng trực tuyến đề cập đến sự sẵn lòng của khách hàng để chấp nhận Internet với mục đích mua thực tế hoặc so sánh giá chào bán của các nhà bán lẻ trực tuyến khác nhau (Iqbal và cộng sự, 2012). Ngoài ra, Sam và Tahir (2009) đề cập đến ý định mua hàng trực tuyến là khả năng người tiêu dùng sẽ mua sản phẩm.
Hơn nữa, Monsuwe và cộng sự (2004) nói 9 rằng ý định mua hàng trực tuyến của người tiêu dùng có liên quan đến kinh nghiệm mua hàng trước đó của họ và nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi mua sắm trực tuyến của họ. Trong khi đó, lịch sử mua sắm trên Internet có thể dẫn đến ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến ý định mua hàng trực tuyến của người tiêu dùng (Kim và cộng sự, 2004). Trong bối cảnh mua hàng trực tuyến, thái độ đề cập đến những đánh giá tốt hay không tốt của người tiêu dùng về việc sử dụng Internet để mua hàng hóa hoặc dịch vụ từ các trang web bán lẻ, thái độ của người tiêu dùng có ảnh hưởng đến ý định của họ.2 Các lý thuyết liên quan 2.1 Lý thuyết hành động hợp lý (The theory of reasoned action _TRA) Lý thuyết hành động hợp lý đã được đề xuất bởi Ajzen và Fishbein vào năm 1975. Lý thuyết này mô tả quá trình tâm lý phía sau hành vi của con người có ý thức và nhằm mục đích khám phá các yếu tố quyết định của hành vi (Ajzen và Fishbein, 1908).
Theo TRA, hành động hoặc quyết định của họ để thực hiện một hành động khác với hành vi khác bị ảnh hưởng bởi niềm tin đối với hành động đó cũng như môi trường trong đó hành động sẽ diễn ra (Sooparemanien và Reobertson, 2007), theo TRA, hành vi của một cá nhân dưới sự cân nhắc (Athiyaman và Campbelltown, 2002) và các biện pháp tăng cường hành vi "những người khó sẵn sàng thử và bao nhiêu nỗ lực mà họ đang có kế hoạch để thực hiện, để thực hiện hành vi" (Ajzen, 1991). 10 Niềm tin đối với những thuộc tính sản phẩm Thái độ Đo lường niềm tin đối với những thuộc tính của sản phẩm Xu hướng Hành vi hành vi thực sự Niềm tin về những người ảnh hưởng sẽ nghĩ rằng tôi nên hay không nên mua sản phẩm Chuẩn chủ quan Sự thúc đẩy làm theo ý muốn của những người ảnh hưởng Hình 2.1: Lý thuyết hành động hợp lý _ TRA. Nguồn: Ajzen và Fishbein, (1975). Trong lý thuyết hành động hợp lý thì niềm tin của mỗi cá nhân người tiêu dùng về sản phẩm hay thương hiệu sẽ ảnh hưởng đến thái độ hướng tới hành vi, và thái độ hướng tới hành vi sẽ ảnh hưởng đến xu hướng mua chứ không trực tiếp ảnh hưởng đến hành vi mua.
Do đó thái độ sẽ giải thích được lý do dẫn đến xu hướng mua sắm của người tiêu dùng, còn xu hướng là yếu tố tốt nhất để giải thích xu hướng hành vi của người tiêu dùng. Thuyết hành động hợp lý TRA giống như mô hình thái độ ba thành phần nhưng mô hình này phối hợp 3 thành phần: nhận thức, cảm xúc và thành phần xu hướng được sắp xếp theo thứ tự khác với mô hình thái độ ba thành phần. Phương cách đo lường thái độ trong mô hình TRA cũng giống như mô hình thái độ đa thuộc tính. Tuy nhiên mô hình TRA giải thích chi tiết hơn mô hình đa thuộc tính vì thêm thành phần chuẩn chủ quan.
Thuyết hành động hợp lý TRA bị giới hạn khi dự đoán việc thực hiện các hành vi của người tiêu dùng mà họ không thể kiểm soát được bởi vì mô hình này 11 bỏ qua tầm quan trọng của yếu tố xã hội mà trong mà trong thực tế có thể là một yếu tố quyết định đối với hành vi cá nhân (Grandon và Peter, 2004). Yếu tố xã hội có nghĩa là tất cả những ảnh hưởng của môi trường xung quanh các cá nhân mà có thể ảnh hưởng đến hành vi cá nhân (Ajzen, 1991); yếu tố về thái độ đối với hành vi và chuẩn chủ quan không đủ để giải thích cho hành động của người tiêu dùng. Để khắc phục hạn chế này, Ajzen đã sửa đổi Lý thuyết hành động hợp lý bằng cách thêm một tiền đề thứ ba của ý định được gọi là kiểm soát hành vi nhận thức. Với việc bổ sung tiền lệ thứ ba này, ông đã đặt lại tên này là Lý thuyết hành vi hoạch định.2 Lý thuyết hành vi hoạch định (The theory of planed behavior _ TPB) Lý thuyết hành vi hoạch định (Ajzen, 1991), được phát triển từ lý thuyết hành động hợp lý_ TRA (Ajzen và Fishbein, 1975), giả định rằng một hành vi có thể được dự báo hoặc giải thích bởi các xu hướng hành vi để thực hiện hành vi đó.
Các xu hướng hành vi được giả sử bao gồm các nhân tố động cơ mà ảnh hưởng đến hành vi, và được định nghĩa như là mức độ nỗ lực mà mọi người cố gắng để thực hiện hành vi đó (Ajzen, 1991). Thuyết TPB kết hợp cấu trúc của kiểm soát hành vi nhận thức ngoài các cấu trúc của thái độ và tiêu chuẩn chủ quan trong lý thuyết TRA. Thái độ đối với một hành động cụ thể thể hiện niềm tin tích cực và tiêu cực của một người và đánh giá hành vi. Đổi lại, thái độ có nguồn gốc từ niềm tin hành vi nổi bật của các kết quả cụ thể và đánh giá kết quả đó.
Tiêu chuẩn chủ quan là nhận thức của một cá nhân về áp lực xã hội nói chung từ những người quan trọng khác để thực hiện hoặc không thực hiện hành vi nhất định. Đến lượt nó, được xác định bởi niềm tin tiêu chuẩn của một cá nhân và động cơ của anh ta/cô ấy để tuân thủ các tham chiếu của anh ta/cô ấy. Cấu trúc mới của kiểm soát hành vi nhận thức đại diện cho nhận thức của một cá nhân về việc liệu hành vi có thuộc quyền kiểm soát của họ hay không (Conner và Abraham, 2001). 12 Thái độ Chuẩn chủ quan Xu hướng Hành vi hành vi thực sự Kiểm soát hành vi cảm nhận Hình 2.2: Lý thuyết về hành vi hoạch định _ TPB Nguồn: Ajzen (1991) Mô hình TPB được xem như tối ưu hơn mô hình TRA trong việc dự đoán và giải thích hành vi của người tiêu dùng trong cùng một nội dung và hoàn cảnh nghiên cứu.
Bởi vì mô hình TPB khắc phục được nhược điểm của mô hình TRA bằng cách bổ sung thêm yếu tố kiểm soát hành vi cảm nhận. “Mô hình TPB có một số hạn chế trong việc dự đoán hành vi (Werner, 2004). Các hạn chế đầu tiên là yếu tố quyết định ý định không giới hạn thái độ, chuẩn chủ quan, kiểm soát hành vi cảm nhận (Ajzen, 1991). Có thể có các yếu tố khác ảnh hưởng đến hành vi.
Dựa trên kinh nghiệm nghiên cứu cho thấy rằng chỉ có 40% sự biến động của hành vi có thể được giải thích bằng cách sử dụng TPB (Ajzen, 1991; Werner, 2004). Hạn chế thứ hai là có thể có một khoảng cách đáng kể thời gian giữa các đánh giá về ý định hành vi và hành vi thực tế được đánh giá (Werner, 2004). Trong khoảng thời gian, các ý định của một cá nhân có thể thay đổi.