lời mở đầu, giới thiệu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, bố cục của luận văn gồm bốn phần sau: Phần một: Tổng quan lý thuyết về hành vi có kế hoạch (TPB) và việc ứng dụng lý thuyết này vào nghiên cứu phân tích ý định về hành vi đầu tƣ cổ phiếu. Phần hai: Phƣơng pháp nghiên cứu Phần ba: Phân tích việc ứng dụng lý thuyết về hành vi có kế hoạch vào việc phân tích ý định đầu tƣ cổ phiếu của nhà đầu tƣ cá nhân khảo sát tại thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn đầu năm 2012. Phần bốn: Kết luận về các nội dung chính của bài luận văn, đóng góp và tính thực tiễn của đề tài, các hạn chế của bài luận văn và đề xuất các hƣớng nghiên cứu tiếp theo. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1: Sơ đồ bố cục bài luận văn • VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU • Ứng dụng lý thuyết về hành vi có kế hoạch (TPB) để phân tích ý định đầu tƣ cổ phiếu của nhà đầu tƣ cá nhân khảo sát tại thành 1 phố Hồ Chí Minh giai đoạn đầu năm 2012 • CƠ SỞ LÝ THUYẾT • Lý thuyết về hành vi có kế hoạch (TPB - Theory of planned behaviour) 2 • Quyết định đầu tƣ cổ phiếu • PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU • Giả thuyết và mô hình nghiên cứu • Kế hoạch thiết kế mẫu và thu thập dữ liệu • Phƣơng pháp nghiên cứu và lập bảng câu hỏi khảo sát 3 • Các phƣơng pháp đo lƣờng • Phƣơng pháp phân tích • PHƢƠNG PHÁP XỬ LÝ DỮ LIỆU • Phân tích mẫu và các kết quả thống kê mô tả • Phân tích hồi quy để kiểm định các giả thuyết chính của bài 4 nghiên cứu cho mô hình TPB • Phân tích sự tƣơng quan giữa các biến • KẾT LUẬN • Giá trị thực tiễn và đóng góp của đề tài 5 • Hạn chế của đề tài • Các hƣớng nghiên cứu tiếp theo TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Những đóng góp của luận văn Thứ nhất, luận văn đã cung cấp thêm một phƣơng pháp để dự đoán ý định về đầu tƣ cổ phiếu bằng việc ứng dụng lý thuyết về hành vi có kế hoạch (TPB) để đo lƣờng mức độ ảnh hƣởng của thái độ đối với hành vi (Ab), chuẩn chủ quan (SN), sự kiểm soát đối với hành vi đƣợc nhận thức (PBC) và kinh nghiệm quá khứ (PE) đến ý định đầu tƣ cổ phiếu của nhà đầu tƣ cá nhân khảo sát tại thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn đầu năm 2012. Thứ hai, luận văn đã xác định đƣợc xu hƣớng biến động và đo lƣờng mức độ ảnh hƣởng của thái độ đối với hành vi (Ab), chuẩn chủ quan (SN), sự kiểm soát đối với hành vi đƣợc nhận thức (PBC) và kinh nghiệm quá khứ (PE) đến ý định đầu tƣ cổ phiếu, các động lực tâm lý này đều có ảnh hƣởng cùng chiều và mức độ ảnh hƣởng theo thứ tự là Ab>PBC>PE>SN. Thứ ba, luận văn đã lƣợng hoá đƣợc các niềm tin chi phối lên các biến độc lập của mô hình: niềm tin về kết quả, niềm tin về sự tham khảo, niềm tin về sự kiểm soát đối với hành vi và phân tích mối quan hệ của các niềm tin nền tảng nổi bật này đến các biến giải thích của mô hình TPB. Kết quả cho thấy tất cả các niềm tin nền tảng nổi bật đều có mối tƣơng quan cùng chiều và khá cao đối với các biến độc lập tƣơng ứng.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI CÓ KẾ HOẠCH (TPB) VÀ HÀNH VI ĐẦU TƢ CỔ PHIẾU Đầu tiên, phần này sẽ cung cấp một cái nhìn tổng quan về khuôn khổ lý thuyết cho bài nghiên cứu này và sau đó tác giả sẽ thảo luận về các tài liệu nghiên cứu có liên quan đến việc ứng dụng TPB trong lĩnh vực tài chính – đầu tƣ. Thêm vào đó, phần thảo luận về sự ứng dụng của lý thuyết TPB trong việc điều tra và phân tích ý định đầu tƣ sẽ cung cấp cho ngƣời đọc các nguyên nhân về việc xây dựng mô hình nghiên cứu và các giả thuyết cũng nhƣ là việc xem xét các kinh nghiệm trong quá khứ nhƣ là một biến độc lập của mô hình TPB. Sau đó, tác giả sẽ trình bày các khái niệm và thuật ngữ về đầu tƣ cổ phiếu.1 Lý thuyết về hành vi có kế hoạch (TPB - Theory of planned behaviour) Lý thuyết hành vi có kế hoạch của Ajzen (1991) là một phát triển lý thuyết trƣớc đó về hành động hợp lý (Theory of reasoned action - TRA) của Ajzen và Fishbein (1980) có khả năng áp dụng và dự đoán trong phạm vi khá rộng. Cả hai lý thuyết đều có thể áp dụng cho các hành vi tự nguyện và đƣợc ủng hộ bởi các ý định và suy nghĩ hợp lý.
Hiện nay, lý thuyết này vẫn đƣợc tác giả Ajzen và các cộng sự nghiên cứu là liên tục cập nhật trên website: http://people.edu/aizen/ Bên cạnh đó, lý thuyết này cũng đƣợc nhiều nhà nghiên cứu sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau nhƣ: marketing, tâm lý, quản trị, y học, và trong đó có lĩnh vực tài chính. Lý thuyết về hành động hợp lý (TRA) đƣợc phát triển bởi Ajzen và Fishbein vào năm 1975 và 1980 và trở thành một trong những mô hình đƣợc sử dụng phổ biến trong việc dự đoán hành vi của con ngƣời. Tuy nhiên, các dự đoán bị giới hạn bởi hành vi mà chỉ đƣợc hoàn tất dƣới điều kiện của ý chí. Dựa vào các kết quả của lý thuyết trƣớc đó, Ajzen (1991) đã giới thiệu Lý thuyết Hành vi có Kế hoạch (the Theory of Planned Behaviour - TPB)) và có nhiều ƣu điểm để vƣợt qua giới hạn của mô hình trƣớc đó.
Về cơ bản, lý thuyết TPB là TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 một dạng mở rộng của lý thuyết TRA với phần bổ sung một thành phần mới với tên gọi là nhận thức kiểm soát (Perceived Behavioural Control-PBC) bên cạnh Thái độ đối với hành vi (Attitude-Ab) và chuẩn chủ quan tức là ý kiến tham khảo của những ngƣời xung quanh (Subjective Norm -SN) theo Ajzen (1991). TPB với biến bổ sung là nhận thức kiểm soát (PBC) đã chứng minh đƣợc giá trị và sự hiệu quả trong hàng loạt các nghiên cứu về tâm lý liên quan đến hành vi của con ngƣời (theo Armitage and Conner, 2001) Quan điểm chính của hai lý thuyết và hai mô hình này là loại bỏ các hành động mang tính bốc đồng, hành vi của mỗi cá nhân là kết quả của sự cân nhắc một cách hợp lý và đƣợc xác định bởi ý định về hành vi của chính anh ta hoặc cô ta (Wang và cộng sự, 2009). Biến ý định về hành vi (BI - Behavioural Intention) đƣợc chi phối bởi 3 biến độc lập thái độ (Ab), chuẩn chủ quan (SN) và nhận thức kiểm soát (PBC) (Lin và cộng sự, 2009) và (Liao và cộng sự, 2010). Theo đó, TPB không phù hợp với ứng dụng khi việc tiêu dùng không tự nguyện, đƣợc yêu cầu của quy ƣớc xã hội (ví dụ nhƣ công ty trả lƣơng vào tài khoản của một ngân hàng thì bắt buộc bạn phải mở tài khoản ở ngân hàng đó, phải có điện thoại bàn ở bàn làm việc) hoặc bắt buộc bởi các cam kết trƣớc (sau khi mua xe tất nhiên phải mua xăng hoặc dầu), và có ít suy nghĩ liên quan (ví dụ ít có ngƣời nào suy nghĩ chọn lựa thƣơng hiệu của cây xăng mà họ chọn đổ nếu lúc đó trên đƣờng họ chỉ thấy một cây xăng ngay lúc gần hết xăng), (East, 1993).
Tuy nhiên, vẫn còn một nhóm các quyết định thƣơng mại mà các lý thuyết về hành vi có kế hoạch nên và có thể áp dụng, các ứng dụng nhƣ vậy bao gồm quyết định trong các lĩnh vực nơi mà các thƣơng hiệu là đặc biệt (ví dụ nhƣ nhiều thƣơng hiệu của các loại thực phẩm và đồ dùng lâu bền: ví dụ nhƣ mua hàng ở siêu thị Coop Mart hay big C, mua tivi Sony hay Samsung), các quyết định phân loại thứ cấp (ví dụ nhƣ xăng không pha chì so với xăng pha chì, chọn xăng 92 hay 95, bột giặt dạng chất lỏng so với bột), việc mua các loại hàng tùy ý (ví dụ nhƣ nƣớc khoáng, nƣớc ngọt), và một loạt quyết định dịch vụ (ví dụ nhƣ về lựa chọn chuyến du lịch, nhà hàng, nơi mua sắm hoặc xem các chƣơng trình truyền hình cụ thể). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Đầu tƣ tài chính cụ thể là đầu tƣ cổ phiếu và các quyết định tiết kiệm khác thuộc về nhóm này, (East,1993). R, 1993 nghiên cứu của về đầu tƣ cổ phiếu tại Anh. Ông đã tiến hành lần lƣợt ba nghiên cứu về việc đặt mua cổ phiếu của ngành công nghiệp Anh đƣợc tƣ nhân hoá đƣợc báo cáo.
Các nghiên cứu về hành vi đầu tƣ vào công ty điện RECS, công ty phát điện GENCOS và công ty viễn thông British Telecom. Với quy mô nghiên cứu ở mức độ chi tiết, bài nghiên cứu cho thấy có một sự tác động lớn từ phía bạn bè và điều quan trọng là khả năng tiếp cận nguồn vốn dễ dàng hay không cũng nhƣ là các tiêu chuẩn tài chính về lợi nhuận và tính an toàn của khoản đầu tƣ. Bài nghiên cứu đã kiểm định các yếu tố của lý thuyết hành vi có kế hoạch bao gồm thái độ (Ab), chuẩn chủ quan (SN), nhận thức kiểm soát (PBC) và kinh nghiệm quá khứ (PE). Kết quả cho thấy các yếu tố này có tác động đến ý định đầu tƣ cổ phiếu của các nhà đầu tƣ Anh lúc bấy giờ, bên cạnh đó, East.
R còn đo lƣờng sự tƣơng quan của các niềm tin nền tảng nổi bật và các yếu tố mà chúng chi phối, và kết quả cho thấy sự tƣơng quan là có xuất hiện nhƣng chƣa thực sự nhất quán và cao lắm. Ajzen và Fishbein chấp nhận rằng các yếu tố nhƣ cá tính và nhân khẩu học khác nhau có liên quan với ý định nhƣng lập luận rằng tập hợp này đƣợc trung gian thông qua niềm tin và lần lƣợt ảnh hƣởng đến thái độ (Ab), chuẩn chủ quan (SN) và nhận thức kiểm soát (PBC), trong đó các yếu tố nhân khẩu học ảnh hƣởng mạnh mẽ nhất đến thái độ (Ab). Mỗi thành phần chính ảnh hƣởng đến ý định đầu tƣ đƣợc định nghĩa nhƣ sau: 1.1 Thái độ về hành vi (Ab) Đầu tiên, thái độ chỉ cảm giác của một cá nhân là thiện chí hoặc không thiện chí về các kết quả của hành vi cụ thể (Ajzen, 1991). Các yếu tố quyết định thái độ hành vi (Ab) là kết quả của niềm tin kết quả, đây là những giá trị dự kiến phát sinh từ hành động.