Chương 1: Lý luận chung về người khuyết tật và báo chí 1. Tổng quan về người khuyết tật 1.1 Người tàn tật hay người khuyết tật Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh với quan điểm khoa học và tinh thần lạc quan đã động viên anh em thương binh hãy luôn là những người “tàn nhưng không phế”. Kể từ đó từ “tàn tật” đã trở thành một trong những từ dùng để tình trạng thương tật, mất mát một phần cơ thể của những người thương binh. Cùng với thời gian, từ “tàn tật” cũng đã được dùng để chỉ những người không may mắn do nhiều nguyên nhân như bị tai nạn, bẩm sinh dẫn đến các dị tật, khiếm khuyết về trí óc, cơ thể.
Khi nền kinh tế đất nước phát triển, vấn đề cải thiện, nâng cao đời sống cho nhiều đối tượng yếu thế trong xã hội được đặt ra để từng bước giải quyết. Với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, sự chia sẻ, giúp đỡ của toàn xã hội, trong những năm vừa qua, những người khiếm khuyết về thể chất hay tinh thần cũng ngày được chăm lo, trợ giúp nhiều hơn. Đời sống của họ được cải thiện, nâng cao rõ rệt. Người tàn tật có nhiều cơ hội để khẳng định mình và hoà nhập với cộng đồng xã hội.
Bên cạnh đó, các chủ trương, Nghị quyết của Đảng cùng sự ra đời của hệ thống các văn bản Pháp luật như: Pháp lệnh về người tàn tật, các Nghị định, Quyết định, Chỉ thị, Thông tư của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, của các bộ cùng hoạt động của các tổ chức như Hội bảo trợ Người tàn tật và Chia s tài liu, lun vn, án tt nghip, h tr download tài liu lun vn. Th vin lun vn, án, tiu lun, lun án, báo cáo, bài tp ln, tài, án, thc tp, tt nghip, thc s, tin s, cao hc Tài liu Lun Vn - Báo Cáo ni bt, c sc, mang giá tr cao vi y các nh dng pdf, word, p 15 of 107. trẻ mồ côi Việt Nam(ASVHO), Văn phòng Điều phối các hoạt động hỗ trợ Người tàn tật Việt Nam (NCCD), Hiệp Hội sản xuất kinh doanh của Người tàn tật Việt Nam (VABED) đã cho thấy cụm từ “người tàn tật” đã được sử dụng mang tính phổ quát khi đề cập tới những người bị khiếm khuyết, dị tật trong xã hội. Như vậy có thể thấy việc sử dụng khái niệm và từ ngữ “người tàn tật” đã có tính lịch sử.
Bên cạnh tính lịch sử, việc sử dụng khái niệm và từ ngữ "người tàn tật" ở nước ta còn mang tính thực tế và tồn tại trong suốt hơn 50 năm qua. Trong hơn 5,3 triệu người tàn tật Việt Nam thì có rất nhiều dạng tật như: bại não, thiểu năng trí tuệ, khuyết tật vận động, khiếm thị, khiếm thính với mức độ nặng, nhẹ rất khác nhau, gây tổn thương, làm giảm khả năng như ăn, nói, di chuyển, hoặc tư duy không hoàn chỉnh. cản trở họ trong việc tự chăm sóc bản thân và tham gia vào các hoạt động xã hội. Có thể chia thành hai cấp độ: Thứ nhất là các dạng khuyết tật dẫn đến suy giảm khả năng lao động 21% trở lên, không có điều kiện kinh tế.
Những người thuộc cấp độ này rất cần sự giúp đỡ về vật chất, hỗ trợ về tinh thần để vươn lên hoà nhập với cộng đồng. Thứ hai là khuyết tật nhẹ và khuyết tật nặng có khả năng kinh tế. Đối với người thuộc dạng này, họ không yêu cầu sự trợ giúp về vật chất mà rất cần được động viên tinh thần, có cơ chế chính sách ưu đãi để tiếp tục phát huy khả năng vốn có của mình. Trong điều kiện kinh tế của đất nước, mọi cơ chế, chính sách trợ cấp, trợ giúp mới tập trung chủ yếu hướng tới đối tượng là người thuộc các dạng tật nặng, hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.
Chính vì vậy, khái niệm “người tàn tật” được dùng để chỉ đối tượng này đã trở nên quen thuộc, phổ biến. Tuy nhiên, cho dù mắc dạng tật nào, ở cấp độ nặng hay nhẹ, người bị khiếm khuyết về thể chất hay tinh thần tật cũng đều cần tiếp cận các hệ Chia s tài liu, lun vn, án tt nghip, h tr download tài liu lun vn. Th vin lun vn, án, tiu lun, lun án, báo cáo, bài tp ln, tài, án, thc tp, tt nghip, thc s, tin s, cao hc Tài liu Lun Vn - Báo Cáo ni bt, c sc, mang giá tr cao vi y các nh dng pdf, word, p 16 of 107. thống dịch vụ công cộng, đặc biệt là nhận thức về sự hoà nhập của họ với cộng đồng và ngược lại.
Mặt khác trong bối cảnh hiện nay, khi thế giới quan tâm tới vấn đề tật bệnh với chương trình phát triển hơn là chương trình trợ giúp thì khái niệm và từ ngữ “người khuyết tật” cũng được đặt ra rõ ràng hơn. Ngày nay, khi việc tiếp cận của người tàn tật (chữ dùng trong các văn bản pháp luật hiện hành) đối với các công trình công cộng còn hạn chế, hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, việc thực thi pháp luật đã có đối với người tàn tật cũng không đầy đủ, có những quy định chưa đi vào cuộc sống và đặc biệt nhận thức của xã hội đối với vấn đề tàn tật và người tàn tật còn khá thấp, thì các nhà xã hội học khuyên dùng khái niệm “người khuyết tật” để chỉ chung cho khái niệm “tàn tật” và “khuyết tật”. Từ ngữ “khuyết tật” hay “người khuyết tật” có nghĩa khiếm khuyết khả năng (thể chất hoặc tinh thần) của con người. Cũng có nghĩa, người khuyết tật hoàn toàn vẫn còn một khả năng tham gia hoạt động xã hội.
Từ “khuyết tật” cũng có nghĩa tích cực hơn từ “tàn tật”; bản thân người được gọi là khuyết tật cũng thấy vơi bớt sự mặc cảm, vươn lên một cách tích cực hơn; gọi là người khuyết tật thì xã hội nhìn nhận họ cũng thêm gần gũi, gắn bó hơn. Chính vì vậy, việc dùng khái niệm “khuyết tật” còn tạo niềm tin cho những người không may mắn, phá bỏ những rào cản trong xây dựng, giao thông, đồng thời phá bỏ những rào cản trong nhận thức của xã hội về người khuyết tật. Ngoài ra, theo Tổ chức Y tế thế giới, về bản chất, cụm từ “tàn tật” lại mang hàm ý chỉ hậu quả của xã hội, môi trường gây ra cho người khuyết tật. Mặt khác, khái niệm tàn tật tồn tại trong khái niệm khuyết tật.
Chính vì vậy Chia s tài liu, lun vn, án tt nghip, h tr download tài liu lun vn. Th vin lun vn, án, tiu lun, lun án, báo cáo, bài tp ln, tài, án, thc tp, tt nghip, thc s, tin s, cao hc Tài liu Lun Vn - Báo Cáo ni bt, c sc, mang giá tr cao vi y các nh dng pdf, word, p 17 of 107. tháng 7 năm 2006, Hội thảo Khái niệm và từ ngữ về người tàn tật do Văn phòng điều phối các hoạt động hỗ trợ người tàn tật Việt Nam (NCCD) tổ chức, đã thống nhất cách gọi những người khiếm khiết về thể chất hay tinh thần là người khuyết tật. Điều này cho thấy, dùng từ khuyết tật hay người khuyết tật cũng là phù hợp với thông lệ quốc tế, phù hợp với xu hướng phát triển của thế giới trong việc đi tìm một khái niệm, từ ngữ để nói về những người bị khiếm khuyết, dị tật trong xã hội.
Vì những lý do nói trên, xin được chọn từ “khuyết tật” hay “người khuyết tật” làm tên gọi thống nhất cho đối tượng được nói đến trong luận văn.2 Các khái niệm liên quan tới người khuyết tật Xã hội loài người phát triển, nền văn minh nhân loại được nâng lên cùng với sự tiến bộ về khoa học - kỹ thuật đã làm thay đổi về chất lượng cuộc sống của toàn nhân loại. Cũng từ đó, bức màn về người khuyết tật được vén lên và làm thay đổi một số quan niệm trước đây về người khuyết tật. Các nhà tâm lý học, xã hội học, giáo dục học. đã nhìn thấy những khiếm khuyết của nền giáo lý cũ và họ đã chỉ ra rằng cần phải làm một cái gì đó để cách tân cái nhìn về đối tượng này.
Họ cũng thống nhất cho rằng, việc cách tân này phải được bắt đầu từ việc thay đổi một cách triệt để nhận thức về “người khuyết tật” của toàn xã hội. Chính vì vậy, cộng đồng xã hội đã đưa ra những đánh giá, khái niệm cụ thể và sâu sắc hơn về người khuyết tật. Trước tiên, các nhà xã hội, tâm lý, bác sĩ trên thế giới cùng chỉ ra rằng khuyết tật không phải là một trạng thái bất biến mà là biểu hiện sự tương tác giữa tình trạng sức khoẻ của một người với hoàn cảnh, môi trường mà Chia s tài liu, lun vn, án tt nghip, h tr download tài liu lun vn. Th vin lun vn, án, tiu lun, lun án, báo cáo, bài tp ln, tài, án, thc tp, tt nghip, thc s, tin s, cao hc Tài liu Lun Vn - Báo Cáo ni bt, c sc, mang giá tr cao vi y các nh dng pdf, word, p 18 of 107.
người đó đang sống. Kết quả của sự tương tác này cho thấy mức độ chức năng hay khuyết tật của người đó. Thứ hai, khuyết tật không chỉ là một trạng thái sức khoẻ đơn thuần về mặt y học mà nghiêng về việc phản ánh mối quan hệ phức tạp giữa các yếu tố quyết định khả năng của một người, sự thực hiện vai trò, chức năng đó với môi trường cơ học và xã hội mà người đó sinh hoạt. Tiếp đó, khuyết tật có thể được định nghĩa và đo lường theo nhiều cách cho nhiều mục đích khác nhau; ví dụ khi cung cấp phúc lợi xã hội hay xây dựng kế hoạch cung cấp các dịch vụ giáo dục hoà nhập sẽ liên quan tới các đối tượng khác nhau.
Tính đa dạng trong chức năng và tác động từ các rào cản môi trường (hay những điều kiện thuận lợi) là các yếu tố quyết định mức độ chức năng và khuyết tật của mỗi cá thể. Tuy nhiên, khuyết tật được đo lường và hiểu, lý giải trong quan niệm đầy đủ về chức năng và khuyết tật theo phân loại quốc tế về sức khoẻ, chức năng và khuyết tật (ICF), trong đó xem xét các yếu tố cá nhân và môi trường cũng như chức năng ở các mức độ khác nhau: cơ thể, cá nhân và xã hội.