Chương 1 Tổng quan Nghiên cứu của M. A [3] “Strength and behaviour of reinforced concrete spandrel beams”, nội dung nghiên cứu về cường độ và ứng xử của dầm biên BTCT. Dầm biên là một phần quan trọng của tổng thể cấu trúc, độ bền và ứng xử của dầm biên thường bị chi phối bởi dầm sàn.3, thể hiện dầm biên và dầm sàn tạo thành một phần của kết cấu khung. Thực tế sự tương tác giữa sàn, dầm biên và dầm sàn làm cho dầm biên chịu tải phức tạp hơn và khá khác nhau.
Độ bền, ứng xử của dầm biên và dầm sàn có nhiều tương quan trong việc xác định phương thức hư hỏng cuối cùng. Các dầm biên chịu sự kết hợp của mô men uốn, mô men xoắn và lực cắt. Để tìm quy luật ứng xử của dầm biên, M. A xét tham số , là tỷ số giữa mô men uốn chia mô men xoắn của dầm, giá trị là cột 5 trong Bảng 1.
a) Mô hình dầm biên của M. Ali b) Sơ đồ kết cấu dầm biên của M.3 Mô hình dầm biên và sơ đồ kết cấu trong khung của Ali [3] Mô hình dầm biên, dầm sàn trong hệ khung của M.3a được đưa về sơ đồ kết cấu như Hình 1. Bằng thực nghiệm 16 mẫu dầm, khác nhau về kích thước, hàm lượng thép, và cường độ bê tông. Kết quả thực nghiệm 4 Chương 1 Tổng quan được tổng hợp trong Bảng 1.
Năm trong số 11 kết luận của M. A, có liên quan đến đề tài được tóm tắt như sau: - Các dầm biên chịu tải trọng kết hợp, ứng với hai giai đoạn: (i) là trước khi nứt và (ii) hư hỏng cuối cùng. Đối với cả hai giai đoạn, độ bền của dầm biên chịu mô men uốn, mô men xoắn, và lực cắt có thể được xác định bằng các biểu thức đề xuất. Khả năng chịu xoắn trước khi nứt chịu ảnh hưởng bởi , là tỉ lệ giữa mô men uốn chia mô men xoắn.
Ngoài ra, còn chịu ảnh hưởng bởi hình dạng mặt cắt, và cường độ chịu kéo của bê tông. Cường độ xoắn cuối cùng theo lý thuyết uốn xiên phụ thuộc vào mối quan hệ ứng suất - biến dạng bê tông và thép, tỷ số , tính chất tiết diện và lượng thép cung cấp. Khi có lực cắt, cường độ xoắn còn bị ảnh hưởng bởi tỷ số giữa lực cắt và lực xoắn. - Lý thuyết uốn xiên đã được sử dụng để xác định độ bền xoắn cuối cùng của dầm biên.
Theo đó, ba Mốt hư hỏng được xác định, dạng hư hỏng thứ tư được xác định gồm ảnh hưởng của ứng suất cắt. - Độ cứng xoắn của dầm biên trước khi nứt và sau khi nứt được xác định bởi các biểu thức sửa đổi theo góc xoắn tương ứng. Đường cong mô men xoắn ban đầu đã được thiết lập và kiểm chứng bằng thực nghiệm, mục đích xác định độ cứng ban đầu, độ cứng tiếp tuyến. Độ cứng trước khi nứt chịu ảnh hưởng của mô men uốn và lực cắt tác dụng, loại bê tông và đặc tính mặt cắt.
Độ cứng sau nứt cũng chịu ảnh hưởng của mô men uốn và lực cắt tác dụng, cũng như bị ảnh hưởng bởi loại bê tông, đặc tính mặt cắt và số lượng thép cung cấp. Các góc xoắn bị ảnh hưởng tương tự ở các giai đoạn khác nhau. - Vị trí của khớp dẻo xoắn được xác định bởi lượng thép cung cấp trong dầm biên, lượng cốt thép chịu kéo và cường độ bê tông có ảnh hưởng đến sự biến dạng không đàn hồi và sự lan truyền của tính dẻo ở các vùng khớp dẻo. - Dầm biên không nên thiết kế từ việc xem xét độ bền uốn, mà xem xét giới hạn góc xoắn, nó phụ thuộc vào góc xoay của dầm sàn.
Góc xoay của dầm sàn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố bao gồm loại tải trọng và cấu tạo. Đảm bảo không xảy ra bất kỳ sự cố sàn hoặc dầm biên. 5 Chương 1 Tổng quan Bảng 1.2 Tổng hợp kết quả thực nghiệm của M. A [3] Ali, Mohamad, Texpcr/Tcalcr Mcalcr/MMeasuredcr Vexp/Vcr = Mexp/Texp and A.60 Nghiên cứu của A.
McMullen [4]“Torsion-shear-flexure interaction in reinforced concrete members”, dự đoán ứng suất, biến dạng và góc xoay ở các mức tải khác nhau. Dự đoán độ bền của cấu kiện chịu uốn - xoắn - cắt kết hợp. Sự cân bằng, tính tương thích được xem xét, và phân tích dự đoán hiện tượng giảm lực cắt. Theo đó, cường độ xoắn của một dầm có cốt thép được tăng cường bởi tải trọng cắt nhỏ.
Bề mặt tương tác uốn - xoắn - cắt, là sự kết hợp của hai mặt tương tác. Thiết lập phương trình đường cong trong không gian (1.2), mô tả bề mặt tương tác thích hợp cho một nhóm tải cụ thể. Kết quả nghiên cứu so sánh với kết quả thử nghiệm của các tác giả trước đây như của Collins, Michael Patrick [2], cho thấy có mối tương quan tốt. 6 Chương 1 Tổng quan Hình 1.4 Mốt 1 bề mặt hư hỏng A.
Ewida [4] Trong phân tích Mốt 1, A.Ewida đã thảo luận rằng; đối với trường hợp xoắn thuần túy, lực trong tất cả các thanh dọc là bằng nhau, trong khi trường hợp chịu tải tổng hợp, lực ở thanh dọc trên và thanh dưới là khác nhau, do mômen uốn. Cánh tay đòn cho mô men uốn xấp xỉ bằng khoảng cách giữa thanh dọc trên và dưới do đó lực ở thanh dọc trên và dưới có thể liên hệ với nhau qua phương trình (13) của A.Ewida [4], được trích lại bên dưới.2) y2 Tác giả, cải tiến ba Mốt hư hỏng của Collins, Michael Patrick [2], từ đó thiết lập mối quan hệ mới uốn, xoắn và cắt đồng thời, theo phương trình (1. - Mốt 1, trong Hình 1.4 tác giả đưa ra giả thuyết rằng, giới hạn của bề mặt hư hỏng được xác định bằng một vết nứt cắt ngang mặt đáy một góc , cắt qua mặt thẳng đứng nơi ứng suất cắt dọc và ứng suất xoắn cộng lại với nhau một góc 1, và cắt qua mặt thẳng đứng khác tại đó ứng suất cắt dọc và ứng suất xoắn trừ đi một góc 2. Các đầu của vết nứt xoắn ốc này được nối với nhau bởi một vùng nén ở một góc .
Các mối quan hệ sau đây giữa , 1 và 2 được giả định để tạo ra sự chuyển đổi trơn tru giữa lực xoắn thuần túy và lực cắt thuần túy. 7 Chương 1 Tổng quan - Mốt 2, vùng nén hình thành tiếp giáp với mặt thẳng đứng của dầm nơi ứng suất cắt dọc và ứng suất cắt xoắn được trừ đi, trong khi vết nứt bắt đầu ở mặt thẳng đứng khác nơi ứng suất cắt được thêm vào. Giới hạn lý tưởng của bề mặt hư hỏng được xác định bằng một vết nứt cắt ngang, một trong các mặt thẳng đứng ở góc và cắt ngang hai mặt nằm ngang một góc . Các đầu của vết nứt xoắn ốc này được nối với một vùng nén ở một góc .
Mối quan hệ giữa và được giả thiết sao cho hai góc bằng nhau trong trường hợp xoắn thuần túy và góc = 0 trong trường hợp cắt thuần túy. Bằng cách xét cân bằng và khả năng tương thích, mốt 2 được xử lý tương tự như mốt 1. - Mốt 3, trong các dầm ít cốt thép lớp trên hơn cốt thép lớp dưới, vùng nén có thể hình thành liền kề với mặt đáy. Mốt 3, thu được mối quan hệ tải trọng biến dạng bằng cách tương tự như mốt 1.
a) Tổng quan bề mặt tương tác không thứ b) Tương tác mặt dầm chịu uốn, nguyên của A.Ewida xoắn và cắt theo A.5 Bề mặt tương tác trong nghiên cứu của A. Ewida [4] Phương trình tổng quát mô tả quan hệ giữa uốn, xoắn và cắt của A.3) Tuo Vuo M uo Các kết luận của A. McMullen [4] như sau: 8 Chương 1 Tổng quan - Kết quả nghiên cứu đã dự đoán đúng độ bền của cấu kiện BTCT có tiết diện hình chữ nhật được bố trí lượng cốt thép dọc lớp trên, lớp dưới hoàn chỉnh, chịu uốn – xoắn – cắt đồng thời. - Hình dạng của các bề mặt tương tác bị ảnh hưởng bởi hàm lượng thép.
- Độ bền xoắn của dầm chịu xoắn và cắt kết hợp có hàm lượng thép lớn được tăng lên, bằng cách tác dụng một lực cắt nhỏ. Sự cải tiến lý thuyết đã được kiểm chứng từ kết quả thực nghiệm của các tác giả trước như Collins, Michael Patrick. - Các bề mặt tương tác uốn - xoắn - cắt không thứ nguyên được đề xuất của tác giả đã dự đoán thỏa đáng độ bền của dầm được bố trí cốt thép đầy đủ. Nghiên cứu của Awadh E.
Ajeel [5], “Torsion plus bending and shear in reinforced concrete beams”, trình bày nghiên cứu dầm BTCT chịu mô men xoắn, mô men uốn và lực cắt kết hợp. Bằng thực nghiệm, tác giả thiết kế sáu dầm giống nhau về kích thước và cốt thép, nhưng khác nhau về thiết lập tải, trong đó hai dầm là tham số đối chiếu. Để thiết lập tải thí nghiệm, một lần nữa tác giả sử dụng tham số là tỷ số mô men uốn chia mômen xoắn. Kết quả thí nghiệm cho thấy, thiết lập tải trọng là yếu tố ảnh hưởng đáng kể đến ứng xử kết cấu của dầm BTCT.
Vì vậy, thông qua thiết lập tải, sự hiện diện của mô men xoắn dẫn đến tăng độ bền của dầm hơn 200% với tải trọng kết hợp so với chỉ mô men uốn thuần túy hoặc mô men xoắn. Ngoài ra, thiết lập gia tải có khả năng khôi phục độ cứng, duy trì chế độ uốn khi hư hỏng, nâng cao hệ số an toàn thiết kế cho dầm BTCT chịu tải liên hợp chịu mô men xoắn, mô men uốn và lực cắt đồng thời. Tác giả đưa ra kết luận như sau: - Kết quả thí nghiệm cho thấy, thiết lập tải trọng là một tham số có hiệu quả về ứng xử kết cấu của dầm BTCT chịu mô men xoắn ngoài ứng suất uốn và ứng suất cắt. Phân kỳ tải trọng điểm đồng tâm trong vùng giữa dầm để giảm giá trị mô men uốn chia mô men xoắn (λ), dẫn đến tăng cường khả năng kháng xoắn, uốn và cắt kết hợp của dầm hơn 200%.
9 Chương 1 Tổng quan - Kết quả thực nghiệm có xu hướng phân tán xung quanh các đường cong lý thuyết trong biểu đồ tương tác của dầm bê tông cốt thép chịu xoắn, uốn và cắt kết hợp phụ thuộc đáng kể vào thiết lập tải trọng. - Mặc dù độ cứng của dầm chịu uốn thuần túy hoặc xoắn thuần túy là tốt hơn độ cứng của dầm khi chịu uốn và xoắn kết hợp, giá trị giảm λ làm giảm độ lệch và góc xoắn. Vì vậy, độ cứng của dầm có thể được phục hồi.