Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Luật Hình sự với đề tài "Tội vi phạm các quy định về quản lý đất đai trong Bộ luật Hình sự năm 2015" do sinh viên Phạm Hồng Dương (Mã sinh viên: 452636) thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS. Lưu Hải Yên tại Trường Đại học Luật Hà Nội (năm 2024).

Về bối cảnh và lý do chọn đề tài, tác giả chỉ rõ đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, là tư liệu sản xuất và nguồn lực to lớn để phát triển kinh tế - xã hội. Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới năm 2013 được khóa luận trích dẫn, Việt Nam có diện tích tự nhiên 33,1 triệu ha (trong đó có 26,2 triệu ha đất nông nghiệp, bao gồm 13,2 triệu ha đất rừng phòng hộ và đặc dụng), nhưng nguồn lực đất đai tính theo đầu người thuộc nhóm thấp (đứng thứ 156 trên thế giới và thứ 9 trong khu vực ASEAN). Bên cạnh việc chịu tác động nặng nề của biến đổi khí hậu, công tác quản lý đất đai tại nhiều địa phương còn bộc lộ nhiều sơ hở, dẫn đến tình trạng khai thác lãng phí, đất đai bị xói mòn, sạt lở, ô nhiễm, tranh chấp kéo dài gây hậu quả nghiêm trọng. Nghị quyết số 18-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII đã xác định nhiệm vụ nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, ngăn chặn tiêu cực, "lợi ích nhóm" và thất thoát tài sản nhà nước. Đặc biệt, việc Quốc hội thông qua Luật Đất đai (sửa đổi) với 432 đại biểu tán thành (đạt tỷ lệ 87,63%) đặt ra yêu cầu cấp thiết phải xem xét, hoàn thiện đồng bộ các quy định pháp luật liên quan, nhất là các quy định hình sự xử lý hành vi vi phạm trật tự quản lý đất đai.

Về mục tiêu nghiên cứu, khóa luận hướng tới việc làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về Tội vi phạm các quy định về quản lý đất đai, qua đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn xét xử. Tác giả xác lập 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Phân tích, làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận chung về Tội vi phạm các quy định về quản lý đất đai trong BLHS năm 2015.
  2. Phân tích các dấu hiệu pháp lý và chế tài hình phạt của Tội vi phạm các quy định về quản lý đất đai theo quy định của BLHS năm 2015.
  3. Đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật và thực tiễn xét xử về tội danh này, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi.

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quy định của Bộ luật Hình sự về Tội vi phạm các quy định về quản lý đất đai và thực tiễn áp dụng tội phạm này.
  • Phạm vi nghiên cứu: Về không gian, khóa luận nghiên cứu trong khuôn khổ các quy định của BLHS hiện hành tại Việt Nam. Về thời gian, công trình tập trung vào các quy định của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), các bản án, số liệu xét xử tại các Tòa án từ khi BLHS năm 2015 có hiệu lực đến nay, có sự liên hệ so sánh với các văn bản pháp luật thời kỳ trước (BLHS 1985, BLHS 1999).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thuộc loại hình nghiên cứu lý luận và thực tiễn pháp lý chuyên ngành Luật Hình sự, vận dụng hệ thống cơ sở lý thuyết, chính trị - pháp lý và phương pháp luận khoa học luật học:

Về cơ sở lý luận và văn bản pháp luật:

  • Cơ sở tư tưởng và quan điểm của Đảng: Tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách ruộng đất ("người cày có ruộng", thư "Gửi nông gia Việt Nam" ngày 07/12/1945), quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về tư liệu sản xuất đất đai; các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Nghị quyết số 19-NQ/TW khóa XI, Nghị quyết số 18-NQ/TW khóa XIII của Ban Chấp hành Trung ương.
  • Khung văn bản quy phạm pháp luật: BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) — trực tiếp là điều luật quy định về Tội vi phạm các quy định về quản lý đất đai (trong khóa luận tác giả ký hiệu và viện dẫn là Điều 220); Luật Đất đai năm 2013 (các điều 50, 59, 66, 72 quy định về thẩm quyền giao đất, thu hồi, cho thuê, chuyển mục đích sử dụng đất, trưng dụng đất); Nghị định số 43/2014/NĐ-CP và Nghị định số 01/2017/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Đất đai; Nghị quyết số 671/NQ-UBTVQH15 về việc lấy ý kiến nhân dân về dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi).

Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả sử dụng gồm 6 phương pháp:

  • Phương pháp luận: Xây dựng khung lý thuyết nền tảng về tội vi phạm các quy định về quản lý đất đai.
  • Phương pháp lịch sử: Khảo cứu quá trình hình thành, phát triển lập pháp hình sự qua các thời kỳ (BLHS 1985, BLHS 1999, BLHS 2015).
  • Phương pháp so sánh: Đối chiếu các điểm mới, điểm sửa đổi giữa BLHS năm 2015 với BLHS năm 1999 về cấu thành tội phạm và hình phạt.
  • Phương pháp phân tích: Mổ xẻ các điều luật, phân tích chi tiết bốn yếu tố cấu thành tội phạm (khách thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan).
  • Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Đánh giá số liệu khởi tố, điều tra và phân tích các vụ án hình sự cụ thể đã được đưa ra xét xử công khai.
  • Phương pháp tổng hợp: Khái quát hóa nhận định, đánh giá những vướng mắc, bất cập và xây dựng các kiến nghị hoàn thiện lập pháp.

Nguồn dữ liệu của công trình bao gồm: Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội (2019) và Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội (2019); sách bình luận khoa học BLHS của GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa (Nxb Tư pháp, 2018/2019), TS. Phạm Mạnh Hùng (Nxb Lao động, 2019); các bài báo khoa học chuyên ngành trên Tạp chí Khoa học Kiểm sát, Tạp chí Nghề luật; Báo cáo tổng kết năm 2021 và triển khai nhiệm vụ năm 2022 của Bộ Tài nguyên và Môi trường; Báo cáo tổng kết năm 2022 của Cục Cảnh sát kinh tế (Bộ Công an); bản án xét xử của TAND tỉnh Khánh Hòa và TAND huyện Đăk Hà (tỉnh Kon Tum).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề chung về Tội vi phạm các quy định về quản lý đất đai

Chương 1 làm rõ các khái niệm cơ bản và cơ sở xác lập trách nhiệm hình sự đối với hành vi xâm phạm trật tự quản lý đất đai:

  • Khái niệm quản lý đất đai: Là quá trình nhà nước áp dụng các biện pháp, hoạt động điều chỉnh, giám sát việc sử dụng, quản lý và bảo vệ đất đai theo pháp luật. Tác giả phân tích cơ cấu bộ máy quản lý đất đai theo Điều 4 Nghị định 43/2014/NĐ-CP (được sửa đổi bởi Nghị định 01/2017/NĐ-CP), gồm: cấp tỉnh (Sở Tài nguyên và Môi trường), cấp huyện (Phòng Tài nguyên và Môi trường, Văn phòng đăng ký đất đai), và cấp xã (công chức địa chính).
  • Khái niệm tội phạm: Trên cơ sở tiếp thu định nghĩa của PGS. Trần Văn Luyện và ThS. Phạm Thị Hồng Nhung, tác giả xây dựng khái niệm: Tội vi phạm các quy định về quản lý đất đai là hành vi nguy hiểm cho xã hội do người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, lợi dụng hoặc lạm dụng chức vụ, quyền hạn thực hiện hành vi giao đất, thu hồi, cho thuê, cho phép chuyển quyền sử dụng, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trái pháp luật, xâm phạm chế độ quản lý về đất đai được Nhà nước bảo hộ. Tội danh này lần đầu được ghi nhận tại Điều 180 BLHS 1985, kế thừa tại Điều 174 BLHS 1999 (sửa đổi 2009) và hiện hành trong BLHS 2015.
  • Cơ sở lý luận và thực tiễn: Tác giả dẫn chứng báo cáo tổng kết của Bộ Tài nguyên và Môi trường: công tác thanh tra, kiểm tra trên toàn quốc đã rà soát, thu hồi chủ trương đầu tư và thu hồi đất đạt diện tích 16.000 ha; yêu cầu đưa vào sử dụng gần 53.000 ha; chấm dứt chủ trương đầu tư với 7.700 ha. Nguồn thu ngân sách từ đất năm 2021 đạt 172.250 tỷ đồng (chiếm 15,2% tổng thu ngân sách nội địa, tăng 3,5 lần so với 2015). Những con số này khẳng định quy mô nguồn lực đất đai rất lớn nhưng công tác quản lý còn nhiều kẽ hở dẫn đến tham nhũng, lãng phí và tranh chấp kéo dài.

Chương 2: Quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về Tội vi phạm các quy định về quản lý đất đai

Chương 2 tập trung mổ xẻ cấu thành tội phạm và hệ thống chế tài áp dụng:

  • Dấu hiệu định tội (4 yếu tố cấu thành):
    • Khách thể: Trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý đất đai (giao, thu hồi, cho thuê, cho phép chuyển quyền, chuyển mục đích sử dụng đất).
    • Mặt khách quan: Thể hiện qua hành vi lợi dụng hoặc lạm dụng chức vụ, quyền hạn thực hiện một hoặc các hành vi trái pháp luật: giao đất trái quy định; thu hồi đất trái quy định; cho thuê đất trái quy định; cho phép chuyển quyền sử dụng đất trái quy định; cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trái quy định (đối chiếu cụ thể với thẩm quyền luật định tại Điều 59, 66 Luật Đất đai 2013).
    • Chủ thể: Là chủ thể đặc biệt — cá nhân từ đủ 16 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự và phải là người có chức vụ, quyền hạn công tác trong bộ máy quản lý nhà nước về đất đai.
    • Mặt chủ quan: Lỗi cố ý trực tiếp; người phạm tội nhận thức rõ hành vi nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện; động cơ chủ yếu là vụ lợi cá nhân hoặc vì lợi ích nhóm.
  • Dấu hiệu định khung và hình phạt: Khóa luận phân tích 3 khung hình phạt chính và 1 khung hình phạt bổ sung. Điểm mới của BLHS 2015 so với BLHS 1999 là đã lượng hóa cụ thể ranh giới định tội và định khung bằng các chỉ số diện tích đất ($m^2$) và giá trị quyền sử dụng đất (đồng), thay vì các tình tiết định tính trừu tượng trước đây.

Chương 3: Thực tiễn xét xử và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về Tội vi phạm các quy định về quản lý đất đai

Chương 3 phản ánh thực tế đấu tranh phòng chống tội phạm qua các số liệu và vụ án xét xử điển hình:

  • Tình hình xét xử: Dẫn báo cáo năm 2022 của Cục Cảnh sát kinh tế (Bộ Công an), toàn lực lượng đã khởi tố 14 vụ án với 56 bị can về tội vi phạm các quy định về quản lý đất đai.
  • Phân tích vụ án điển hình:
    1. Vụ án tại núi Chín Khúc (Nha Trang, Khánh Hòa): Sai phạm tại Dự án Sinh thái tâm linh Cửu Long Sơn Tự và Dự án Biệt thự sông núi Vĩnh Trung. TAND tỉnh Khánh Hòa đã xét xử sơ thẩm 7 bị cáo (gồm 2 cựu Chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa qua các nhiệm kỳ và 5 cựu lãnh đạo Sở TN&MT, Sở Xây dựng) về tội danh theo Khoản 3 điều luật áp dụng do hành vi giao đất, chuyển mục đích sử dụng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và miễn tiền thuê đất trái quy định.
    2. Vụ án tại huyện Đăk Hà (tỉnh Kon Tum): Bị cáo Đoàn Ngọc Thắng (nguyên Chủ tịch UBND huyện), Hoàng Nghĩa Trí (nguyên Phó Chủ tịch Thường trực UBND huyện), Nguyễn Cao Yến (nguyên Trưởng phòng TN&MT) và Ninh Thanh Luân (chuyên viên) đã cố ý giao đất có thu tiền sử dụng đất không qua đấu giá cho 51 trường hợp (với 81 thửa đất). Tổng số tiền thu thực tế về ngân sách là trên 6 tỷ 146 triệu đồng, trong khi giá trị quyền sử dụng đất do Sở Tài chính tỉnh Kon Tum định giá tại thời điểm khởi tố là trên 8 tỷ 100 triệu đồng. Tòa án đã tuyên phạt các bị cáo hình phạt tù giam, tù treo, phạt bổ sung 20 triệu đồng/bị cáo và buộc nộp khắc phục hậu quả hơn 493 triệu đồng.
  • Bất cập, hạn chế chỉ ra từ thực tiễn:
    • Thủ đoạn phạm tội tinh vi, các bị cáo là người nắm giữ quyền lực và có chuyên môn cao nên có xu hướng lách luật, xóa dấu vết.
    • Tâm lý e ngại va chạm trong điều tra, xử lý cán bộ lãnh đạo.
    • Kẽ hở trong kỹ thuật lập pháp về định lượng diện tích đơn lẻ: Tác giả nêu ví dụ thực tế một Chủ tịch xã giao trái phép 5.000 $m^2$ đất rừng đặc dụng và 6.000 $m^2$ đất phi nông nghiệp (tổng diện tích 11.000 $m^2$), nhưng khi đối chiếu với Điểm a Khoản 1 thì đất rừng chưa đạt ngưỡng tối thiểu 10.000 $m^2$, đất phi nông nghiệp chưa đạt ngưỡng tối thiểu 10.000 $m^2$, dẫn đến bế tắc trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự do luật không quy định cơ chế cộng dồn diện tích giữa các loại đất khác nhau.
  • Các kiến nghị hoàn thiện:
    • Thống nhất đơn vị đo lường diện tích giữa BLHS ($m^2$) và Luật Đất đai (hecta).
    • Bổ sung hành vi "Trưng dụng đất trái quy định của pháp luật" vào cấu thành tội phạm nhằm tương thích với Điều 72 Luật Đất đai 2013 và Nghị định 43/2014/NĐ-CP.
    • Phân hóa trách nhiệm hình sự và định lượng đất đai, giá trị quyền sử dụng đất theo khu vực nông thôn và đô thị để phản ánh đúng mức độ nguy hại của hành vi.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận tổng hợp hệ thống quy định chế tài và các định lượng cụ thể tại Điều 220 BLHS năm 2015 theo bảng sau:

Khung hình phạt Hình phạt áp dụng Tiêu chuẩn định lượng về diện tích đất Tiêu chuẩn định lượng về giá trị QSDĐ / Tình tiết khác
Khung cơ bản (Khoản 1) Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm - Đất trồng lúa: từ 5.000 $m^2$ đến dưới 30.000 $m^2$;
- Đất rừng đặc dụng, phòng hộ, sản xuất: từ 10.000 $m^2$ đến dưới 50.000 $m^2$;
- Đất nông nghiệp khác và phi nông nghiệp: từ 10.000 $m^2$ đến dưới 40.000 $m^2$.
- Giá trị từ 500 triệu đến dưới 2 tỷ đồng (đất nông nghiệp);
- Giá trị từ 1 tỷ đến dưới 5 tỷ đồng (đất phi nông nghiệp);
- Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm.
Khung tăng nặng 1 (Khoản 2) Phạt tù từ 02 năm đến 07 năm - Đất trồng lúa: từ 30.000 $m^2$ đến dưới 70.000 $m^2$;
- Đất rừng đặc dụng, phòng hộ, sản xuất: từ 50.000 $m^2$ đến dưới 100.000 $m^2$;
- Đất nông nghiệp khác và phi nông nghiệp: từ 40.000 $m^2$ đến dưới 80.000 $m^2$.
- Có tổ chức;
- Giá trị từ 2 tỷ đến dưới 7 tỷ đồng (đất nông nghiệp);
- Giá trị từ 5 tỷ đến dưới 15 tỷ đồng (đất phi nông nghiệp);
- Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Khung tăng nặng 2 (Khoản 3) Phạt tù từ 05 năm đến 12 năm - Đất trồng lúa: từ 70.000 $m^2$ trở lên;
- Đất rừng đặc dụng, phòng hộ, sản xuất: từ 100.000 $m^2$ trở lên;
- Đất nông nghiệp khác và phi nông nghiệp: từ 80.000 $m^2$ trở lên.
- Giá trị từ 7 tỷ đồng trở lên (đối với đất nông nghiệp);
- Giá trị từ 15 tỷ đồng trở lên (đối với đất phi nông nghiệp).
Hình phạt bổ sung (Khoản 4) Phạt tiền / Cấm đảm nhiệm chức vụ Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng; cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Áp dụng kèm theo một trong các khung hình phạt chính.

Về các đóng góp khoa học chính mà tác giả tự nêu:

  1. Hệ thống hóa lý luận: Làm rõ bản chất pháp lý, vị trí của tội danh trong nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, chuẩn hóa định nghĩa khoa học về tội vi phạm các quy định về quản lý đất đai.
  2. Phân tích toàn diện dấu hiệu pháp lý: Chỉ rõ các yêu cầu về mặt khách quan gắn với thẩm quyền hành chính công của Luật Đất đai 2013; phân tích đặc điểm chủ thể đặc biệt và tính chất lỗi cố ý trực tiếp.
  3. Đánh giá thực chứng: Cập nhật số liệu xét xử thực tế năm 2022 của Bộ Công an và phân tích chi tiết hai vụ án lớn có sự tham gia của lãnh đạo cấp tỉnh, huyện (vụ án núi Chín Khúc tại Khánh Hòa và vụ án giao đất tại huyện Đăk Hà, Kon Tum).
  4. Phát hiện lỗ hổng lập pháp và kiến nghị: Chỉ ra bất cập khi thiếu cơ chế xử lý trường hợp vi phạm diện tích nhiều loại đất gộp lại (dưới ngưỡng từng loại nhưng tổng diện tích lớn); đề xuất 3 nhóm giải pháp lập pháp xác đáng: thống nhất đơn vị tính diện tích ($m^2$ thay vì hecta), bổ sung hành vi trưng dụng đất trái phép, và phân hóa định lượng giá trị theo khu vực đô thị - nông thôn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có những giới hạn nghiên cứu được nhận diện dựa trên nội dung văn bản:

  • Hạn chế về dữ liệu thực tiễn: Nguồn số liệu xét xử thực tế chủ yếu dựa trên báo cáo tổng kết của cơ quan công an trong năm 2022 và các bài viết trích dẫn vụ án điểm trên báo chí, chưa xây dựng được bảng thống kê định lượng toàn diện các bản án hình sự về tội danh này trên toàn quốc qua từng năm.
  • Hạn chế về phạm vi lập pháp tương quan: Tại thời điểm hoàn thành khóa luận (đầu năm 2024), Luật Đất đai (sửa đổi) vừa mới được Quốc hội biểu quyết thông qua, các văn bản nghị định hướng dẫn thi hành chưa được ban hành đầy đủ, do đó tác giả chủ yếu đối chiếu thẩm quyền với Luật Đất đai năm 2013 mà chưa thể đánh giá toàn diện tác động của các quy định mới trong Luật Đất đai năm 2024 đối với cấu thành hình sự tội danh này.
  • Hướng nghiên cứu mở rộng: Cần tiếp tục theo dõi, đánh giá sự tương thích giữa BLHS năm 2015 với Luật Đất đai năm 2024 khi có hiệu lực; nghiên cứu xây dựng nguyên tắc quy đổi hoặc cộng dồn tỷ lệ phần trăm diện tích vi phạm giữa các loại đất khác nhau trong cấu thành tội phạm cơ bản.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu học thuật có giá trị tham khảo thiết thực cho:

  • Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự: Tham khảo cấu trúc luận giải, phương pháp bóc tách bốn yếu tố cấu thành tội phạm có cấu thành vật chất định lượng và kỹ năng liên kết giữa luật nội dung (BLHS) với luật chuyên ngành (Luật Đất đai).
  • Người nghiên cứu về quản lý nhà nước và địa chính: Cung cấp góc nhìn pháp lý về các ranh giới vi phạm hành chính và vi phạm hình sự trong các hoạt động giao đất, thu hồi, cho thuê, cho phép chuyển quyền và chuyển mục đích sử dụng đất.
  • Cán bộ thực tiễn (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán): Tham khảo tình huống pháp lý thực tế về xử lý sai phạm không qua đấu giá quyền sử dụng đất, chênh lệch định giá tài sản và phương pháp giải quyết lỗ hổng cấu thành tội phạm khi diện tích vi phạm nằm phân tán ở nhiều loại đất.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ quan quản lý đất đai ở địa phương được khóa luận dẫn giải theo quy định nào và gồm những cơ quan nào? Khóa luận dẫn chiếu Điều 4 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 3 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP). Theo đó, cơ quan quản lý đất đai ở địa phương bao gồm:

  • Cơ quan quản lý đất đai ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Sở Tài nguyên và Môi trường.
  • Cơ quan quản lý đất đai ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh: Phòng Tài nguyên và Môi trường.
  • Văn phòng đăng ký đất đai được giao thực hiện một số nhiệm vụ trong quản lý nhà nước về đất đai; UBND cấp huyện bố trí công chức địa chính xã, phường, thị trấn bảo đảm thực hiện nhiệm vụ.

2. Điểm mới cơ bản nhất của BLHS năm 2015 so với BLHS năm 1999 đối với tội danh này là gì? Điểm mới quan trọng nhất là việc thay thế các dấu hiệu mang tính định tính trừu tượng của BLHS năm 1999 bằng các quy định định lượng chi tiết, cụ thể về diện tích đất ($m^2$) theo từng phân loại đất (đất lúa, đất rừng đặc dụng/phòng hộ/sản xuất, đất nông nghiệp khác, đất phi nông nghiệp) và giá trị quyền sử dụng đất quy thành tiền (đồng) cho từng khung hình phạt. Đồng thời, luật bổ sung dấu hiệu nhân thân "Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm" vào cấu thành cơ bản tại Khoản 1.

3. Khóa luận nêu ví dụ điển hình nào để minh họa kẽ hở định lượng trong cấu thành tội phạm tại Khoản 1 Điều 220 BLHS 2015? Tác giả nêu ví dụ: Ông X là Chủ tịch UBND xã Y có hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn ký xác nhận đồng ý giao 5.000 $m^2$ đất rừng đặc dụng và 6.000 $m^2$ đất phi nông nghiệp trái phép (tổng diện tích là 11.000 $m^2$). Dù tổng diện tích vi phạm lớn, nhưng xét riêng từng loại thì diện tích đất rừng đặc dụng chưa đủ 10.000 $m^2$ và đất phi nông nghiệp chưa đủ 10.000 $m^2$ theo quy định tại Điểm a Khoản 1, dẫn đến việc không thể truy cứu trách nhiệm hình sự do luật hiện hành chưa có quy định xử lý đối với trường hợp vi phạm diện tích nhiều loại đất cộng lại.

4. Trong vụ án tại huyện Đăk Hà (Kon Tum), sai phạm cụ thể và kết quả xét xử đối với các bị cáo như thế nào? Trong giai đoạn 2017 - 2018, các cán bộ lãnh đạo huyện Đăk Hà (Đoàn Ngọc Thắng, Hoàng Nghĩa Trí, Nguyễn Cao Yến, Ninh Thanh Luân) đã giao đất có thu tiền sử dụng đất không qua đấu giá cho 51 trường hợp với 81 thửa đất. Số tiền thực tế thu về ngân sách là trên 6 tỷ 146 triệu đồng, nhưng giá trị theo định giá của Sở Tài chính tỉnh Kon Tum là trên 8 tỷ 100 triệu đồng. TAND huyện Đăk Hà đã tuyên phạt: Đoàn Ngọc Thắng 18 tháng tù treo (thử thách 36 tháng); Nguyễn Cao Yến 18 tháng tù treo; Hoàng Nghĩa Trí 30 tháng tù giam; Ninh Thanh Luân 22 tháng tù giam; phạt bổ sung mỗi bị cáo 20 triệu đồng và nộp khắc phục hậu quả hơn 493 triệu đồng.

5. Tác giả đề xuất các kiến nghị lập pháp cụ thể nào nhằm hoàn thiện quy định của BLHS năm 2015 về tội danh này? Tác giả đề xuất 3 kiến nghị lập pháp chính:

  1. Thống nhất đơn vị tính diện tích đất là $m^2$ giữa BLHS năm 2015 và Luật Đất đai năm 2013 (hiện Luật Đất đai sử dụng đơn vị hecta, BLHS dùng $m^2$).
  2. Bổ sung hành vi "Trưng dụng đất trái quy định của pháp luật" vào cấu thành tội phạm của điều luật (dựa trên Điều 72 Luật Đất đai 2013 và Nghị định 43/2014/NĐ-CP).
  3. Phân hóa trách nhiệm hình sự và định lượng đất đai, giá trị quyền sử dụng đất tách biệt theo khu vực nông thôn và đô thị nhằm phản ánh đúng giá trị và mức độ nguy hại thực tế của hành vi vi phạm.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Phạm Hồng Dương là một công trình nghiên cứu nghiêm túc và có tính thời sự cao trong chuyên ngành Luật Hình sự tại Trường Đại học Luật Hà Nội. Tác giả đã hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận về Tội vi phạm các quy định về quản lý đất đai, phân tích sâu sắc các dấu hiệu pháp lý định lượng và các khung chế tài theo quy định của BLHS năm 2015. Thông qua việc phân tích thực tiễn xét xử các đại án đất đai điển hình và phát hiện những vướng mắc, lỗ hổng trong kỹ thuật lập pháp hình sự, công trình đã đề xuất các giải pháp hoàn thiện có giá trị khoa học và thực tiễn thiết thực.