mở đầu cho một cuộc chiến tranh kéo dài 30 năm trên đất nước Việt Nam và kéo theo nó mọi hoạt động của đời sống dân tộc đều bị chiến tranh chi phối. Chính vì vậy, nền văn hóa văn nghệ mà đặc biệt là nền văn học Việt Nam cũng mang đậm dấu ấn chiến tranh, trong đó tiểu thuyết chính là thể loại thấm đẫm hơi thở thời đại. Bởi, tiểu thuyết là thể loại chủ lực của văn xuôi, cũng đồng thời là thước đo sự trưởng thành của một nền văn học. Nó là danh dự, là niềm tự hào của mỗi dân tộc, “thiếu nó, dân tộc thiếu sử thi” [36].
Với khẩu hiệu “Kháng chiến hóa văn hóa, văn hóa hóa kháng chiến”, tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn này chủ yếu tập trung vào “… cổ động tinh thần và lực lực lượng kháng chiến của nhân dân” như lời nhắc nhở của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời “… phải nêu rõ những thành tích kháng chiến kiến quốc vĩ đại của ta cho thế giới biết… phải có những tác phẩm xứng đáng chẳng những để biểu dương sự nghiệp kháng chiến kiến quốc bây giờ, mà còn để lưu truyền những gương mẫu oanh liệt kháng chiến kiến quốc cho con cháu đời sau” [57]. Các nhà nghiên cứu thống nhất rằng, nền văn học cách mạng Việt Nam là một nền văn học sử thi (anh hùng ca). Cơ sở hình thành của nền văn học sử thi chính là hiện thực hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Nhà triết học biện chứng Hegel cho rằng: Tình huống phù hợp nhất với thơ sử thi là các xung đột của trạng thái chiến tranh.
Thực vậy, trong chiến tranh, chính là toàn bộ dân tộc đang vận động. Nó bị kích thích phải hành động vì nó phải bảo vệ toàn bộ mình [36]. Hai cuộc kháng chiến đã khiến toàn dân tộc bị kéo vào vòng chiến tranh, vì vậy ý thức xả thân vì độc lập dân tộc đã tạo nên hàng vạn anh hùng, tô điểm cho bản anh hùng ca 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hùng tráng của đất nước. Nói như Nguyễn Huy Tưởng: “Thời đại chúng ta sống là một thời đại phi thường, một thời đại của “sử thi”, các tướng lĩnh và toàn thể đồng bào đem xương máu sáng tạo nên hàng nghìn, hàng vạn sự tích bi tráng, dọn thành một kho vô tận tài liệu cho văn nghệ mới.” Chính vì vậy, đặc trưng chủ đạo của tiểu thuyết cách mạng Việt Nam là luôn bám sát các mục tiêu chính trị trước mắt, kịp thời cổ vũ chiến đấu và xây dựng CNXH như Xung kích của Nguyễn Đình Thi, Vùng mỏ của Võ Huy Tâm, Người người lớp lớp của Trần Dần, Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc.
Các nhà văn dùng bút pháp hiện thực để phanh phui, phê phán những cái xấu xa của xã hội cũ và dùng bút pháp lãng mạn cách mạng để ca ngợi, biểu dương cuộc sống mới. Nhân vật được miêu tả trong mối quan hệ biện chứng với hoàn cảnh sống, xây dựng được những hình tượng điển hình trong hoàn cảnh điển hình. Nhân vật chủ đạo là những con người mới XHCN, mang vẻ đẹp toàn diện, có tác dụng nêu gương. Giọng điệu chủ đạo là ngợi ca công lao của Đảng Cộng sản và nhân dân anh hùng.
Văn phong trong tiểu thuyết cách mạng thường chuẩn mực, giản dị, dễ hiểu với quần chúng… Đánh giá về đóng góp của mảng tiểu thuyết chiến tranh cách mạng Việt Nam cho nền văn học nước nhà nói chung và mảng tiểu thuyết nói riêng, có nhiều ý kiến cho rằng đây là mảng văn học phải đạo, văn học giáo huấn, văn học chính trị, văn học minh họa… Tuy nhiên, công bằng mà nói, trong cuộc chiến tranh ác liệt ấy, nền văn học Việt Nam không bị thoái trào mà còn phát triển mạnh mẽ đó là nhờ một phần rất lớn của mảng tiểu thuyết chiến tranh cách mạng Việt Nam. Đặc biệt, tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh đã góp phần hoàn thiện thêm thể loại tiểu thuyết mới manh nha được hình thành trong giai đoạn trước, đồng thời còn cho ra đời 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mảng tiểu thuyết trinh thám - chính trị hay còn gọi là tiểu thuyết tình báo làm phong phú thêm diện mạo của nền văn học nước nhà. Mảng tiểu thuyết tình báo và vị trí của tiểu thuyết Ông cố vấn Là một nhánh của tiểu thuyết trinh thám, tiểu thuyết tình báo nói lên nghề nghiệp của nhân vật chính: làm gián điệp với nhiệm vụ dò la, điều tra, khám phá, khai thác thông tin của kẻ địch để cung cấp cho tổ chức của mình. Đây là kiểu truyện vụ án, truyện viết về tội phạm, nó mách bảo tác giả xây dựng một cốt truyện hấp dẫn, đưa bạn đọc đến với những tình huống bất ngờ khiến họ luôn ở trong trạng thái căng thẳng.
Lịch sử chiến tranh cách mạng là một mảnh đất màu mỡ để tiểu thuyết tình báo phát triển. Với hoàn cảnh lịch sử những thế hệ nối tiếp nhau đứng lên cầm súng tiểu thuyết tình báo thực sự trở thành một đề tài thu hút nhiều tác giả cũng như các độc giả Việt Nam. Tiểu thuyết tình báo trong nền văn học Việt Nam Vào cuối thập niên 60 đầu thập niên 70, truyện tình báo đầu tiên đã xuất hiện ở miền Bắc. Đây là thời điểm cuộc chiến tranh chống Mỹ đang vào hồi khốc liệt nhất và là thời kỳ của cuộc chiến gián điệp được đẩy mạnh hơn bao giờ hết.
Sài Gòn lúc ấy là môi trường lý tưởng của các cơ quan tình báo: CIA Mỹ, người Nhật, người Anh, Trung Quốc và vô số các nước khác thăm dò lẫn nhau. Thông qua con đường di cư theo hiệp định Genève, nhiều chiến sĩ tình báo của miền Bắc đã tìm cách chui sâu, leo cao vào bộ máy chóp bu của chính quyền, có mặt trong các đơn vị quân đội Việt Nam cộng hòa, nằm trong các cơ quan tình báo đối phương. Trong khi đó, Mỹ và chính quyền miền Nam cũng tung hàng trăm toán gián điệp, biệt kích ra miền Bắc với mục đích thu thập thông tin tình báo và hoạt động phá hoại. Suốt thập niên 1960 cho đến đầu những năm 1970, chuyện bắt gián điệp ở miền Bắc trở thành câu chuyện hàng ngày của 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mỗi người dân.
Những vụ bắt gián điệp diễn ra mọi nơi; những vụ án tình báo, gián điệp cũ từ cuộc chiến tranh trước được công khai, trở thành những bài học cho nhu cầu tuyên truyền cho cuộc chiến tranh chống gián điệp, biệt kích hiện tại. Tất cả các yếu tố đó đã tạo thành chất liệu và bối cảnh vô cùng giàu có cho thể loại tình báo - phản gián. Thế nhưng, cho đến giữa thập niên 1970, tiểu thuyết tình báo chỉ phát triển một cách dè dặt. Suốt gần hai mươi năm, người ta chỉ thấy xuất hiện thưa thớt vài cuốn sách của Nhà xuất bản Quân đội nhân dân: Cất vó của Đặng Thanh, Tọa độ bí mật, Mũi tên mười bảy của Phạm Thanh Đàm, Bản án tử hình của Nguyễn Khắc Thứ, Nhóm rắn lục của Văn Phan… Trong bối cảnh văn học về đề tài chiến tranh được đề cao, tiểu thuyết tình báo được coi là một bộ phận của văn học chiến tranh, phản ánh và hé lộ bộ mặt khác của chiến tranh là cuộc chiến bí mật, thầm lặng mà những chiến sĩ tình báo, trinh sát đã tiến hành để đi tới thắng lợi chung của cả cuộc chiến đấu giải phóng và thống nhất đất nước.
Tuy nhiên, giá trị văn chương của những cuốn sách kể trên khá hạn chế, hầu hết vẫn mang tính chất kể chuyện cảnh giác mà kém chất tiểu thuyết. Đất nước vẫn trong chiến tranh, lịch sử phần chìm gần như vẫn nằm trong bức tường bí mật là lý do khiến mảng tiểu thuyết tình báo thời kỳ này còn hạn chế. Nửa sau thập niên 70 đến những năm đầu thập niên 90 là đỉnh cao của tiểu thuyết tình báo. Thời kỳ này đất nước đã thống nhất, những tư liệu chiến tranh dần được công khai, những nhà tình báo sống nhiều năm dưới vỏ bọc ở bên kia dần lộ diện, các điệp vụ tình báo, phản gián trở thành đề tài cho báo chí… Sau một thời gian dài nhìn lại, nhu cầu nhận thức về chiến tranh của mỗi người càng trở nên cấp thiết và sâu sắc.
Thời điểm này, văn học dịch cũng đạt được những thành tựu cao. Nhiều cuốn tiểu thuyết tình báo của thế giới, đặc biệt là của Liên Xô như: Mười bảy khoảnh khắc 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mùa xuân, Đối địch, Tass được quyền tuyên bố, Tháng Tám năm bốn tư, Kế hoạch Joy, Hầm bí mật trên sông En-bơ…, và sau này là Điệp viên đến từ xứ lạnh, Chó rừng (Anh)… được dịch in, tác động đến giới sáng tác, góp phần tạo nên lớp độc giả của tiểu thuyết tình báo - gián điệp. Trong những điều kiện như thế, tiểu thuyết tình báo nhanh chóng đạt đến đỉnh cao về số lượng và giá trị thể loại. Ngay sau ngày giải phóng miền Nam, bạn đọc đã chờ đón từng kỳ cuốn tiểu thuyết X30 phá lưới của Đặng Thanh in dài kỳ trên báo Sài Gòn giải phóng, sau đó được in thành sách năm 1976.
Tác giả này đã xuất bản 11 cuốn sách về đề tài tình báo, ngoài Cất vó, X30 phá lưới còn có Tấm bản đổ thất lạc (2 tập - in năm 1984), Lần theo chuỗi hạt (1987), Đi tìm thần chết (1989)… Cũng trong năm 1976, những tập đầu tiên của bộ tiểu thuyết Ván bài lật ngửa của tác giả Nguyễn Trường Thiên Lý bắt đầu phát hành và thu hút sự chú ý của hàng vạn độc giả. Bộ tiểu thuyết sáu tập nhanh chóng được coi là bộ sách mẫu mực của thể loại tiểu thuyết tình báo Việt Nam. Năm 1982, bộ sách được chuyển thể thành phim truyện dài 9 tập. Cả tiểu thuyết và phim được đọc và xem ở khắp mọi nơi.
Đây là một sự kiện lớn của nền văn học và điện ảnh lúc bấy giờ. Năm 1975, Nguyễn Sơn Tùng cho ra mắt tiểu thuyết Hoa hồng trắng, sau đó ông công bố tiếp các tập sách khác như Miền đất lạ (1977), Viên đạn ngược chiều, Một mình nơi đất khách (1988). Đây là bộ tiểu thuyết tình báo 4 tập viết về hoạt động tình báo trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp.