Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận của hoạt động quản lý tài chính trong các dự án đầu tư tại doanh nghiệp Chương 2. Phương pháp nghiên cứu Chương 3. Thực trạng hoạt động quản lý hoạt động phân tích tài chính các dự án đầu tư xây dựng tại Công ty cổ phần Đầu tư và Thương mại Dầu khí Nghệ An trong giai đoạn hiện nay.
Một số giải pháp nâng cao hoạt động quản lý tài chính các dự án đầu tư tại Công ty cổ phần Đầu tư và Thương mại Dầu khí Nghệ An trong giai đoạn hiện nay. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH TRONG CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Về cơ sở lý luận của phân tích tài chính doanh nghiệp hiện nay đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu, cũng như các lý thuyết được trình bày trong các tài liệu xuất bản trong và ngoài nước như: Phân tích tình hình tài chính nhằm hoàn thiện các giải pháp để nâng cao hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là đề tài đã được sự quan tâm của nhiều tác giả, trong những năm qua đã có nhiều công trình khoa học được công bố, nhiều luận văn, luận án cũng lấy vấn đề phân tích tài chính doanh nghiệp làm đối tượng nghiên cứu như: Tác giả Châu Tấn Huê (2013) trong đề tài “Phân tích báo cáo tài chính của công ty cổ phần Đường Ninh Hòa” đã đánh giá khái quát tình hình tài chính của công ty cổ phần Đường Ninh Hòa, phân tích cấu trúc tài chính và tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, bên cạnh đó tác giả đã đưa ra những khuyến nghị cho nhà đầu tư, các cổ đông có môṭ cái nhìn đúng đắng hơn về cổ phiếu của Công ty cổ phần Đường Ninh Hoà. Tuy nhiên tác giả không đi sâu phân tích cấu trúc tài chính và cân bằng tài chính doanh nghiệp.
Tác giả Đào Thị Bằng (2012) trong đề tài “Phân tích tình hình tài chính Công ty cổ phần Thực Phẩm Đức Việt” đã làm rõ tình hình tài chính của Công ty cổ phần Thực Phẩm Đức Việt thông qua việc phân tích các nhóm chỉ số tài chính thể hiện trên báo cáo tài chính từ năm 2009 đến 2011 của Công ty và các yếu tố khác như lực lượng lao động, việc chấp hành các chính sách của Nhà nước, công nghệ. Bên cạnh đó, tác giả cũng đưa ra một số khuyến nghị 5 nhằm lành mạnh hóa và nâng cao hiệu quả tài chính của Công ty Cổ phần Thực Phẩm Đức Việt. Tuy nhiên, đề tài không đi sâu phân tích dòng tiền, dự báo tốc độ tăng trưởng và đánh giá về rủi ro tiềm tàng. Tác giả Vũ Thị Bích Hà (2012) trong đề tài “Phân tích tài chính Công ty cổ phần Kinh Đô” đã phân tích bức tranh toàn cảnh về tài chính của Công ty cổ phần Kinh Đô qua việc tập trung phân tích các nhóm chỉ số tài chính.
Tuy nhiên tác giả chưa đi sâu phân tích cấu trúc tài chính và tình hình bảo đảm nguồn vốn cho kinh doanh của doanh nghiệp. Trong đề tài “Phân tích tình hình tài chính Công ty cổ phần Cơ Khí Lắp Máy Lilama”, tác giả Nguyễn Thị Hồng Tân (2011) thông qua việc phân tích tình hình tài chính của Công ty cổ phần Cơ Khí Lắp Máy Lilama đã chỉ ra được những điểm mạnh, điểm yếu trong tài chính của Công ty cổ phần Cơ Khí Lắp Máy Lilama và đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính của Công ty. Đề tài “Phân tích tình hình tài chính tại công ty cổ phần Vinaconex 25”, Luận văn Thạc sỹ của tác giả Bùi Văn Lâm viết năm 2011 cũng đề cập đến thực trạng phân tích tình hình tài chính của công ty Các đề tài trên đã đề cập đến những vấn đề chung về thực trạng phân tích tài chính công ty hiện nay, và đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện phân tích tài chính. Tuy nhiên, chưa có đề tài nào phân tích về tình hình tài chính của một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trò chơi trực tuyến cũng như của Công ty cổ phần VTC truyền thông trực tuyến.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu và phân tích tình hình tài chính về báo cáo tài chính mới nhất của Công ty cổ phần VTC truyền thông trực tuyến và tìm giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính doanh nghiệp là một việc làm hết sức cần thiết và có ý nghĩa đối với các bên quan tâm bên trong và ngoài doanh nghiệp. 6 Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright năm 2007-2008 có viết “ Giáo trình giới thiệu và hướng dẫn sử dụng các kỹ thuật phân tích các báo cáo tài chính công ty để giúp giám đốc tài chính đánh giá được thực trạng và đánh giá tình hình tài chính công ty nhằm hoạch định hoặc đưa ra các quyết định tài chính. Luận văn “Phân tích tài chính ở Techcombank”,tác giả Trần Thị Tuệ Linh: Về cơ bản, luận văn đã trình bày tương đối kỹ về những tồn tại, phân tích các ưu và nhược điểm của Techcombank cũng như chỉ ra các nguyên nhân và hướng gợi mở cho ngân hàng trong việc nâng cao chất lượng công tác phân tích BCTC trong hiện tại và tương lai. Luận văn “Phân tích tài chính và nâng cao hiệu quả tài chính của Tổng công ty Hàng không Việt Nam” tác giảChu Thị Phượng: Trên nền tảng lý thuyết chung về phân tích tài chính và đánh giá hiệu quả tài chính của doanh nghiệp, tác giả luận văn đã phân tích tình hình tài chính và đánh giá hiện trạng tài chính của Tổng công ty Hàng không Việt Nam.
Từ đó luận văn cũng đã đưa ra được một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tài chính của doanh nghiệp. Các luận văn trên đã đề cập đến những vấn đề chung về thực trạng phân tích tài chính công ty hiện nay, và đưa ra một số giải pháp cho những thực trạng trên. Các nghiên cứu đã đưa ra những phân tích, đánh giá và nhận định về tầm quan trọng của phân tích tài chính đối với sự phát triển của doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên các nghiên cứu mới chỉ tập trung đi sâu vào giải pháp cho các doanh nghiệp cụ thể, đặc biệt chưa đưa ra được các giải pháp để nâng cao hoạt động kinh doanh và chưa có những khuyến nghị, những đề xuất mang gói giải pháp mang tính đồng bộ cho các doanh nghiệp Việt Nam nói chung hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại doanh nghiệp.
Đầu tư và dự án đầu tư 1. Đầu tư Đầu tư là hoạt động quan trọng của bất kỳ tổ chức nào trong nền kinh tế thế giới. Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về đầu tư. Theo Ngân hàng thế giới WB, “Đầu tư là sự bỏ vốn trong một thời gian dài vào một lĩnh vực nhất định (như thăm dò, khai thác, sản xuất-kinh doanh, dịch vụ…nào đó) và đưa vốn vào hoạt động của doanh nghiệp tương lai trong nhiều chu kỳ kế tiếp nhằm thu hút vốn và có lợi nhuận cho nhà đầu tư và có lợi ích kinh tế-xã hội cho đất nước đầu tư".
Theo Luật Đầu tư, “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác nhau của pháp luật có liên quan”. Hay trên bình diện xã hội, đầu tư là việc sử dụng vốn vào quá trình tái sản xuất xã hội nhằm tạo ra năng lực sản xuất lớn hơn. Trên góc độ doanh nhân hoặc doanh nghiệp, đầu tư là việc đưa vốn vào một hoạt động nào đó nhằm mục đích thu lợi nhuận. Hoạt động đầu tư được tiến hành trên cơ sở các dự án đã được soạn thảo và xem xét nhằm đạt được các mục tiêu đã định.
Khái niệm Với các quan điểm khác nhau, có thể có các khái niệm khác nhau về dự án. Một cách tổng quát nhất có thể hiểu dự án là một tập hợp các hoạt động đặc thù liên kết chặt chẽ và phụ thuộc lẫn nhau nhằm đạt được trong tương lai ý tưởng đã đặt ra (mục tiêu nhất định) với nguồn lực và thời gian xác định. [10, 15] Hoạt động đầu tư của nhà đầu tư được thể hiện tập trung thông qua việc thực hiện các dự án đầu tư. 8 Theo Ngân hàng thế giới “Dự án đầu tư là tổng thể các chính sách, hoạt động và chi phí liên quan với nhau được hoạch định nhằm đạt được những mục tiêu nào đó trong một thời gian nhất định”.
Theo Luật đầu tư năm 2005, “Dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định”. Phân loại Để thuận tiện cho việc theo dõi, quản lý và đề ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động đầu tư có thể phân loại hoạt động đầu tư theo các tiêu thức sau: Theo cơ cấu vốn, đầu tư có thể được chia thành các loại sau: Đầu tư tài sản cố định (TSCĐ) Đây là loại đầu tư nhằm mua sắm, cải tạo, mở rộng TSCĐ trong doanh nghiệp. Thông thường vốn đầu tư cho loại tài sản này chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng vốn đầu tư của doanh nghiệp. Loại này có thể bao gồm: - Đầu tư xây lắp - Đầu tư máy móc thiết bị - Đầu tư TSCĐ khác Đầu tư cho TSCĐ bao gồm đầu tư tài sản hữu hình (nhà xưởng, máy móc, thiết bị…) và đầu tư tài sản vô hình (danh tiếng, bằng phát minh sáng chế, tên thương mại…).
Đầu tư tài sản lưu động(TSLĐ) Đây là khoản đầu tư hình thành nên TSLĐ cần thiết bảo đảm cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tiến hành hoạt động bình thường. Khi có 9 sự tăng trưởng của doanh nghiệp ở một mức độ nào đó đòi hỏi phải có sự bổ sung TSLĐ. Đầu tư tài sản tài chính Trong các hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp có thể lựa chọn đầu tư vào các tài sản tài chính như cổ phiếu, trái phiếu. Loại tài sản này có thể mang lại các lợi ích tài chính trong tương lai.
Việc phân loại đầu tư theo cơ cấu vốn giúp cho doanh nghiệp có thể xem xét tính chất hợp lý của các khoản đầu tư trong tổng thể đầu tư của doanh nghiệp, đảm bảo xây dựng được một kết cấu tài sản thích ứng với điều kiện của từng doanh nghiệp nhằm đạt hiệu quả đầu tư cao.