Chương 1: Giới thiệu đề tài. Trong chương này bài nghiên cứu trình bày tổng quan về luận văn: lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, nội dung nghiên cứu. Chương 2: Tổng quan về tác động của nhân tố kinh tế vĩ mô đến chỉ số giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán. Ở chương này, tác giả trình bày cơ sở lý thuyết liên quan đến thị trường chứng khoán cũng như các tác động của các nhân tố vĩ mô đến thị trường chứng khoán.
Chương 3: Thực trạng tác động của nhân tố kinh tế vĩ mô đến chỉ số VN- Index trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Tác giả trình bày thực trạng thị trường chứng khoán của Việt Nam và các tác động của các nhân tố vĩ mô đến thị trường chứng khoán. Chương 4: Mô hình tác động của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến thị trường chứng khoán Việt Nam. Tác giả trình bày dữ liệu nghiên cứu, mô hình nghiên cứu và các kết quả đạt được từ việc nghiên cứu định lượng Chương 5: Một số kiến nghị, giải pháp và kết luận.
Trình bày tổng quát lại kết quả, đồng thời nêu lên một số kiến nghị và giải pháp. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 CHƯƠNG 2. LÝ LUẬN TỔNG QUAN 2. Tác động của những nhân tố kinh tế vĩ mô đến chỉ số giá cổ phiếu 2.
Nhân tố lạm phát Lạm phát là dùng để chỉ mức giá của những hàng hóa hay dịch vụ tăng lên theo thời gian so với mức giá tại một thời điểm trước đó. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI - Consumer Price Index) là chỉ tiêu cơ bản để tính lạm phát. Lạm phát do 2 nguyên nhân chính gây ra là lạm phát do chi phí đẩy và lạm phát do cầu kéo. Giả thuyết của Fisher Mối liên kết giữa thị trường chứng khoán và lạm phát thu hút nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu.
Nghiên cứu đầu tiên phát hiện mối liên kết này là nghiên cứu của Fisher (1930). Theo giả thuyết của Fisher (1930), chứng khoán có thể đóng vai trò như là phòng ngừa chống lại lạm phát. Nếu giả thuyết này đúng, thì các nhà đầu tư có thể bán các tài sản tài chính của họ để lấy cái tài sản thực khi lạm phát kỳ vọng được thông báo. Trong nhiều tính huống, giá chứng khoán có thể phản ánh đầy đủ lạm phát kỳ vọng và mối liên kết giữa hai biến số này có thể là tương quan cùng chiều (Ioannides và các cộng sự, 2005).
Lập luận cho rằng thị trường chứng khoán có thể đóng vai trò như là phòng ngừa đối với lạm phát có hàm ý rằng nhà đầu tư có thể được “bồi thường” đối với sự gia tăng trong chỉ số giá chung của nền kinh tế thông qua sự gia tăng tương ứng trong thị trường chứng khoán. Giả thuyết Modigliani và Cohn Giả thuyết về ảo giác lạm phát của Modigliani và Cohn (1979) chỉ ra rằng ảnh hưởng thực của lạm phát là do sự ảo giác về tiền tệ. Theo Bekaert và Engstrom (2007), ảo giác lạm phát được cho rằng khi lạm phát kỳ vọng gia tăng, tỷ suất sinh lợi của trái phiếu sẽ gia tăng tương ứng, nhưng bởi vì nhà đầu tư chứng khoán chiết khấu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 dòng tiền dựa vào lãi suất danh nghĩa, sự gia tưng trong tỷ suất sinh lợi danh nghĩa sẽ dẫn đến chứng khoán có thể bị định giá dưới giá (under-pricing) và ngược lại. Các nghiên cứu xem xét mối quan hệ giữa lạm phát và thị trường chứng khoán vẫn chưa thật sự nhất quán.
Chẳng hạn như Floros (2004), Ugru (2005), Pesaran và các cộng sự (2001), Crosby (2001), Spyros (2001) tìm ra mối quan hệ đối nghịch giữa lạm phát và thị trường chứng khoán. Trong khi đó Patra và Posshakwale (2006) và Lee và Wong (2000) lại cho rằng lạm phát có ảnh hưởng cùng chiều đến thị trường chứng khoán. Yeh và Chi (2009) sử dụng mô hình phân phối trễ tự hồi quy để kiểm tra sự phù hợp của các giả thuyết được đề cập khi xem xét mối quan hệ giữa hai biến số này. Kết quả thực nghiệm của nghiên cứu này bao gồm 12 quốc gia trong khối OECD cho thấy rằng tồn tại mối quan hệ ngắn hạn và ngược chiều giữa lạm phát và thị trường chứng khoán.
Hon thế nữa, các quốc gia như Úc, Pháp, IreLand và Hà Lan không cho thấy mối quan hệ dài hạn giữa hai biến số này. Kết quả này phù hợp với giả thuyết của Fama (1981), điều này cho thấy rằng sự gia tăng trong lạm phát sẽ làm giảm chỉ số giá thị trường chứng khoán. Kết quả này cũng tương tự với phát hiện của Rapach (2002). Tác giả lập luận rằng tồn tại ảnh hưởng tiêu cực của lạm phát đến chỉ số giá thị trường chứng khoán sau khi kiểm soát các cú sốc sản lượng.
Spyros (2002) đã sử dụng mô hình vector tự hồi quy để kiểm định giả thuyết Fisher. Kết quả của tác giả cho thấy một quan điểm trái ngược khi thị trường chứng khoán phòng ngừa lạm phát. Nghiên cứu này cho thấy mối quan hệ ngược chiều nhưng không có ý nghĩa thống kê giữa lạm phát và thị trường chứng khoán ở Hy Lạp từ năm 1990 đến 2000. Tương tự vậy, Floros (2002) đã sử dụng kiểm định nhân quả để xem xét mối quan hệ giữa lạm phát và thị trường chứng khoán ở Hy Lạp và kết luận rằng lạm phát và chứng khoán ở Hy Lạp có thể được xem như là độc lập với nhau bởi vì kết quả của các kiểm định mà tác giả sử dụng đều cho thấy không tồn tại mối quan hệ giữa lạm phát và thị trường chứng khoán ở Hy Lạp.
Crosby (2001) nghiên cứu tương quan giữa lạm phát và thị trường chứng khoán tại Úc từ năm 1875 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Kết quả của tác giả cho thấy rằng tồn tại mối quan hệ ngược chiều trong ngắn hạn giữa hai biến số này nhưng mối quan hệ này phù thuộc vào từng giai đoạn khác nhau. Ngược lại, Lee và các cộng sự (2000) đã sử dụng mô hình ARIMA để giải thích tác động của siêu lạm phát của Đức đến thị trường chứng khoán trong những năm 1920. Kết quả của nghiên cứu này cho thấy rằng siêu lạm phát ở Đức trong những năm 1920 có đồng liên kết với thị trường chứng khoán.
Bên cạnh đó mối quan hệ giữa thị trường chứng khoán với cả lạm phát thực và lạm phát kỳ vọng đề là cùng chiều. Các tác giả kết luận rằng các chứng khoán phổ thông được xem như là một kênh phòng ngừa lại lạm phát trong suốt giai đoạn này. Choudhry (2001) trong nghiên cứu của mình khi xem xét tác động của lạm phát đến thị trường chứng khoán của các quốc gia Argentina, Chile, Mexico, Venezuela từ năm 1981 – 1996 và mô hình tác giả cũng là mô hình ARIMA. Kết quả của tác giả tiết lộ rằng tồn tại mối quan hệ giữa lạm phát và thị trường chứng khoán ở Argentina và Chile.
Kết quả của các tác giả cũng cho rằng giá trị trễ của lạm phát có tác động đến thị trường chứng khoán và kết quả này phản ánh rằng chứng khoán sẽ đóng vai trò như là một kênh phòng ngừa chống lại lạm phát. Patra và Poshakwale (2006) đã sử dụng mô hình hiệu chỉnh sai số để thực hiện nghiên cứu tác động của các biến kinh tế đến thị trường chứng khoán Hy Lạp từ năm 1990 – 1990. Kết quả thực nghiệm của các tác giả cho thấy rằng một số biến kinh tế vĩ mô như cung tiền, lạm phát có mối quan hệ ngắn hạn và dài hạn với giá chứng khoán của Hy Lạp trong khi đó mối quan hệ ngắn hạn hay dài hạn giữa tỷ giá và giá chứng khoán không được tìm thấy. Urgur (2005) đã nghiên cứu tác động của lạm phát đến thị trường chứng khoán của Thổ Nhĩ Kỳ trong giai đoạn 1986 – 2000 và tiết lộ rằng lạm phát kỳ vọng và thị trường chứng khoán không tương quan với nhau.
Kết quả của nghiên cứu cho thấy rằng tồn tại mối quan hệ ngược chiều giữa lạm phát và thị trường chứng khoán. Aperigis và Eleftheriou (2002) cũng cho rằng mối liên kết giữa lạm phát và thị trường LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 chứng khoán Hy Lạp là ngược chiếu. Tương tự như vậy Adrangi và các cộng sự (1999) và Sellin (2005) cũng ủng hộ giả thuyết này. Nhân tố tỷ giá Quan điểm truyền thống của tỷ giá hối đoái cho rằng tỷ giá hối đoái sẽ điều chỉnh sự cân bằng đối với các giao dịch hàng hóa trên quốc tế, tuy nhiên, gần đây mô hình tỷ giá hối đoái lại nhấn mạnh thị trường tài chính.
Quan điểm này cho rằng bởi vì giá hàng hóa được điều chỉnh tương đối chậm hơi so với giá của tài sản tài chính và tài sản tài chính thì được giao dịch liên tục mỗi ngày, do đó, quan điểm này cho rằng tỷ giá hối đoái sẽ có ảnh hưởng đáng kể đến thị trường tài chính của mỗi quốc gia. Mô hình tỷ giá hối đoái hiện đại (nhấn mạnh vai trò của thị trường tài chính) giả định sự dịch chuyển vốn là hoàn hảo. Nói cách khác, dòng vốn có thể tự do dịch chuyển giữa các quốc gia mà không có bất kỳ chi phí giao dịch đáng kể nào hoặc sự kiểm soát dòng vốn nào. Trong mô hình tiếp cận theo hướng tài sản tài chính, có hai nhóm cơ bản: phương pháp tiếp cận theo chính sách tiền tệ và phương pháp tiếp cận theo sự cân bằng danh mục (portfolio – balance).
Đối với phương pháp tiếp cận theo hướng chính sách tiền tệ, tỷ giá hối đoái đối với hai đồng tiền bất kỳ được xác định bởi nhu cầu tiền và cung tiền giữa hai quốc gia. Trong khi đó trái phiếu trong và ngoài nước thì không quan trọng đối với phương pháp tiếp cận này. Tuy nhiên, phương pháp tiếp cận theo sự cân bằng danh mục xem nhu cầu trái phiếu và cung trái phiếu như là nhân tố quyết định đến tỷ giá hối đoái. Sự khác biệt cơ bản là do phương pháp tiếp cận theo chính sách tiền tệ giả định rằng trái phiếu trong và ngoài nước thì có thể thay thế hoàn hảo với nhau, trong khi đó phương pháp tiếp cận theo sự cân bằng danh mục giả định rằng hai yếu tố này là thay thế không hoàn hảo.
Nếu trái phiếu trong và ngoài nước có tính thay thế hoàn hảo, thì người có nhu cầu về trái phiếu sẽ không quan tâm đến đồng tiền của trái phiếu miễn sao hiệu quả kỳ vọng la giống nhau. Trong trường hợp này, người nắm giữ trái phiếu sẽ không yêu cầu phần bù rủi ro để nắm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.