Đặt vấn đề; Mục tiêu nghiên cứu; Câu hỏi nghiên cứu; Đối tượng và phạm vi nghiên cứu; Phương pháp nghiên cứu; Kết cấu của luận văn Chương 2. Tổng quan lý thuyết và lược khảo tài liệu gồm: trình bày các khái niệm về tín dụng, phân biệt tín dụng chính thức và tín dụng phi chính thức, các lý thuyết về khả năng tiếp cận tín dụng chính thức; các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan. Giới thiệu huyện Châu Thành và Phương pháp nghiên cứu: Khái quát thực trạng kinh tế xã hội và các hoạt động tín dụng trên địa bàn huyện Châu Thành; Trình bày các phương pháp nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy Binary Logistic và ứng dụng trong đánh giá tác động của các nhân tố đặc thù hộ nông dân và đặc thù sở hữu tài sản lên khả năng tiếp cận tín dụng chính thức tại chi nhánh các ngân hàng trên địa bàn huyện Châu Thành, tỉnh Long An; Xác định và mô tả các biến trong mô hình; Mô tả dữ liệu; Xây dựng mô hình. Kết quả nghiên cứu: Mô tả dữ liệu và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng của nông hộ trên địa bàn huyện Châu Thành, Long An.
Kết luận và các khuyến nghị chính sách. Tài liệu tham khảo và các phụ lục có liên quan đến đề tài. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Chương 2. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.
Tổng quan lý thuyết 2. Khái niệm về tín dụng: Theo Sử Đình Thành (2008), tín dụng là mối quan hệ vay mượn giá trị (hàng hoá, tiền tệ) giữa người cho vay và người đi vay dựa trên sự tin tưởng (tín nhiệm). Lê Văn Tề (2009) cũng cho rằng, tín dụng phản ánh mối quan hệ giao dịch giữa một bên chuyển giao giá trị (thường bằng tiền) sang cho bên kia sử dụng trong một thời gian nhất định và nhận ngược lại một lượng giá trị lớn hơn theo thời hạn đã thoả thuận. Một cách tổng quát, ‘tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang người sử dụng trong một thời gian nhất định với một khoản chi phí nhất định’ (Sử Đình Thành, 2008, tr.
Như vậy, tín dụng ngân hàng là mối quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với các chủ thể khác trong nền kinh tế, trong đó ngân hàng đóng vai trò là người đi huy động vốn để thực hiện hoạt động cho vay. Lãi suất được xem như là chi phí sử dụng của khoản vay của khách hàng vay do ngân hàng ấn định trong suốt khoảng thời gian tồn tại của khoản vay.Rao (2003), việc hình thành tín dụng dựa trên sự trao đổi tự nguyện trong quá trình chuyển nhượng vốn, điều này bao gồm cả việc xử lý và sàng lọc các thông tin có liên quan đến thực hiện một giao dịch tín dụng. Quan điểm tín dụng của sự chuyển hoá tiền (credit view of monetary transmission) được dựa trên giả định rằng các chính sách tiền tệ của Chính phủ tác động đến thời hạn và sự sẵn có của tín dụng đối với các khoản vay mới cũng như tác động đến lãi suất ngắn hạn (bao gồm cả trực tiếp và gián tiếp). Đặc trưng và điều kiện của tín dụng: Tín dụng là sự giao dịch các giá trị (hàng hoá và tiền tệ) dựa trên sự tín nhiệm của một tổ chức hay cá nhân nào đó.
Theo đó, người cho vay tin tưởng người đi vay sử dụng vốn hiệu quả, sinh lợi và sau một thời gian có khả năng trả nợ gốc và lãi. Mặc dù hiện nay, các hình thái quan hệ tín dụng đã phát triển phong phú và đa dạng nhưng theo Sử Đình Thành (2008) thì chúng vẫn có 3 đặc điểm cơ bản như sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 - Tín dụng chỉ làm thay đổi quyền sử dụng (tạm thời) chứ không làm thay đổi quyền sở hữu vốn. - Quá trình chuyển giao vốn phải có thời hạn và thời hạn tín dụng dài hay ngắn là tuỳ thuộc vào thoả thuận giữa các bên tham gia tín dụng. - Chủ sở hữu vốn được nhận lại một phần thu nhập dưới dạng lợi tức tín dụng trong một khoảng thời gian nhất định.
Thiếu một trong ba đặc tính này sẽ không cấu thành mối quan hệ tín dụng. Chẳng hạn nếu thiếu đặc trưng thứ ba thì sẽ trở thành mối quan hệ mượn, nếu thiếu đặc trưng thứ hai thì trở thành biếu tặng. Để đảm bảo mối quan hệ tín dụng bền vững, có các điều kiện cần xem xét như sau: Đối với bên đi vay: - Phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm hành vi dân sự theo quy định của pháp luật. - Có mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp - Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết, cụ thể: Có vốn tự có đối ứng thực hiện dự án; Kinh doanh có hiệu quả, có lãi, trường hợp lỗ thì phải có phương án khả thi khắc phục lỗ đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết.
Đối với khách hàng vay vốn đáp ứng nhu cầu đời sống thì phải có nguồn thu ổn định để trả nợ ngân hàng. - Có dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ khả thi và có hiệu quả, đảm bảo sinh lợi sau một khoảng thời gian nhất định. Đối với bên cho vay: - Thực hiện các quy định về đảm bảo tiền vay theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước. Thị trường tín dụng và định mức tín dụng Thị trường tín dụng Theo Kao (2003), tài trợ cho kinh tế phát triển đã trở nên khả thi khi có một sự di chuyển vốn lớn hơn và sử dụng nguồn lực hữu hiệu.
Những hạn chế liên quan khả năng tiếp cận đến tín dụng tạo ra các cản ngại trong việc sử dụng vốn tối ưu cho việc nâng cao tăng trưởng và phát triển kinh tế ở cấp độ quốc gia tiếp nhận tiềm năng. Định mức Tín dụng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Giá cân bằng thị trường của vốn (dựa trên sự cân bằng của cung và cầu vốn) không hiện hữu trong các thị trường tín dụng. Điều này là do việc tài trợ tín dụng không phải là một cuộc đấu giá trong một bối cảnh cạnh tranh, và không xuất hiện tại một sự kiện hay thời điểm tức thời cho việc quyết định những cái chung giữa các nhân tố cung và cầu. Khái niệm cân bằng thị trường Walras đơn giản là không áp dụng được trong bối cảnh mà ở đó chúng ta phải xử lý tính liên tục của các yếu tố kinh tế được định nghĩa theo thời gian; thông tin không đầy đủ có liên quan đến các trạng thái trong tương lai.
Có khá nhiều lý thuyết kể từ thập niên 1970 nói về chủ đề định mức tín dụng. Theo truyền thống, định mức tín dụng được giả định là xảy ra khi người cho vay cung cấp các khoản cho vay nhỏ hơn so với những khoản vay mà người đi vay yêu cầu ngay cả khi người cho vay quyết định mức lãi suất áp dụng (Jaffee và Russell, 1976). Ngay cả với khái niệm nghiêm ngặt của định mức tín dụng, thì cũng không hợp lý khi kết luận (như Jaffee và Russell 1976 đã làm) rằng sự độc quyền hoàn toàn của người cho vay hàm ý rằng không có định mức tín dụng vì các lý do sau: - Ngay cả một người cho vay có quyền lực độc quyền hoàn toàn (người có thể khai thác các mức cho vay nặng lãi hay tạm thời) cũng sẽ không thể duy trì một khối lượng lớn ở các thị trường và các mức lãi suất cao trong một giai đoạn dài. - Các vấn đề thực thi cũng vẫn quá tốn kém.
- Các nguồn vốn là hữu hạn hay sự khan hiếm tương đối của chúng tạo nên một minh chứng thuyết phục cho sự hiện hũu của hiện tượng định mức tín dụng. - Trong các bối cảnh thị trường tín dụng, vai trò của rủi ro dẫn đến việc áp đặt các định mức tín dụng liên quan đến các loại người đi vay cụ thể. Lãi suất của người cho vay được nâng lên có lẽ không tự động dẫn đến sự cải thiện về lợi nhuận cho người cho vay bởi vì tính nội sinh của việc trả nợ vay là một hàm số của lãi suất cao. Những lãi suất này có thể dẫn đến sự chọn lựa người đi vay với các hành vi chấp nhận rủi ro cao hơn và các vấn đề thực hiện việc trả nợ vay bị làm trầm trọng thêm.
Những sự gia tăng trong lãi suất cho vay có thể tạo ra sự gia tăng đáng kể rủi ro của việc trả nợ vay và các khoản vay xấu bởi một hay nhiều nhân tố sau đây: - Chọn lựa bất lợi của người xin vay với tương đối ít sự cam kết đối với việc trả nợ vay ngay cả khi họ đồng ý bằng các cam kết rõ ràng; - Thiên hướng rủi ro quá mức của họ trong việc thực hiện quyết định tài chính; LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 - Sự kém hiệu quả tài chính hậu nghiệm sau việc vay mượn. Nếu xét đến việc mô hình hóa kinh tế chính thức thì các mô hình phân tích ban đầu về định mức tín dụng với thông tin không hoàn hảo và sự bất định được Jaffee và Russell đề xuất đầu tiên (1976). Tuy nhiên, những mô hình này phản ảnh các đặc trưng có liên quan khác nhau theo một cách thức đơn giản hóa (và phải thừa nhận là các thị trường cho vay thực tế rất khác với những thị trường được xem xét trong nghiên cứu của hai tác giả này). Stiglitz và Weiss (1981) đã cơ cấu các mô hình mà họ cho là tối ưu đối với người cho vay trong việc định mức tín dụng do các vấn đề của thông tin không hoàn hảo giữa người cho vay và người đi vay.
Trong số các đặc trưng có liên quan của thị trường cho vay mà đã được khảo sát trong mô hình của họ bao gồm: sự nội sinh của tính rủi ro của việc trả nợ vay so với lãi suất, và vai trò của chi phí thực thi.