chương 1, tác giả trình bày về sự cấp thiết lý do chọn vấn đề nghiên cứu, đưa ra mục tiêu, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu của luận văn. Nêu được những đóng góp thiết thực của luận văn đối với nhu cầu thông tin của doanh nghiệp cũng như nhu cầu thông tin của các cấp quản lý. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2. Doanh nghiệp là “Đơn vị kinh tế thực hiện hạch toán kinh tế độc lập, có đầy đủ tư cách pháp nhân, được thành lập theo Luật Doanh nghiệp, Luật đầu tư trực tiếp của nước ngoài hoặc theo Hiệp định ký kết giữa Chính phủ Việt Nam với chính phủ nước ngoài, bao gồm các loại hình doanh nghiệp sau đây”: Doanh nghiệp Nhà nước là “Các loại hình doanh nghiệp sau:(1) Doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước hoạt động do trung ương quản lý và địa phương quản lý; (2) Công ty trách nhiệm hữu hạn Nhà nước do trung ương quản lý và địa phương quản lý; (3) Công ty cổ phần vốn trong nước mà Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ” Doanh nghiệp ngoài nhà nước là “Các doanh nghiệp có vốn trong nước, mà nguồn vốn thuộc sở hữu tư nhân của một người hoặc nhóm người có sở hữu Nhà nước nhưng chiếm từ 50% vốn điều lệ trở xuống.
Khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước gồm: (1) Các doanh nghiệp tư nhân; (2) Các công ty hợp danh; (3) Các công ty trách nhiệm hữu hạn tư nhân; (4) Các công ty cổ phần không có vốn Nhà nước; (5) Các công ty cổ phần có tỷ lệ vốn Nhà nước từ 50% vốn điều lệ trở xuống”. Hợp tác xã là “Tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của hợp tác xã thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã”. Khu vực có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài là “Các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài, không phân biệt tỷ lệ vốn của bên nước 7 ngoài góp là bao nhiêu. Khu vực này có hai loại hình chủ yếu là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và doanh nghiệp liên doanh giữa nước ngoài với các đối tác trong nước”.
Tài sản cố định và đầu tư dài hạn của doanh nghiệp là “Toàn bộ giá trị của tài sản cố định sau khi trừ đi hao mòn của tài sản cố định, giá trị chi phí xây dựng cơ bản dở dang, các khoản ký quỹ, ký cược dài hạn và các khoản đầu tư tài chính dài hạn của doanh nghiệp”. Doanh thu thuần của doanh nghiệp là “Tổng thu nhập của doanh nghiệp do tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, cung cấp các dịch vụ cho bên ngoài sau khi trừ các khoản thuế (Thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp phải nộp) và các khoản giảm trừ (chiết khấu, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại). Doanh thu thuần không bao gồm: (1) Doanh thu hoạt động tài chính; (2) Doanh thu các hoạt động bất thường như thanh lý, nhượng bán tài sản, thu tiền vi phạm hợp đồng, thu các khoản nợ khó đòi đã xử lý. Lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp là “Số lợi nhuận thu được trong năm của DN từ các hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động tài chính và các hoạt động khác phát sinh trong năm trước khi nộp thuế thu nhập doanh nghiệp.
Đây là tổng lợi nhuận của toàn doanh nghiệp, tức là đã được bù trừ giữa các hoạt động có lãi và hoạt động bị thua lỗ”. Lợi nhuận gộp là phần giá trị thặng dư của một HĐSXKD của doanh nghiệp sau khi trừ đi tất cả chi phí được xác định trong một kỳ tài chính (thường là một năm). Lợi nhuận là thước đo hiệu quả hoạt động kinh doanh của DN, đồng thời thể hiện kết quả về chính sách, biện pháp kinh doanh của DN. Đây cũng là chỉ tiêu tổng hợp, phản ánh kết quả kinh tế của tất cả HĐSXKD của DN.
Việc 8 phân tích lợi nhuận giúp cho DN đánh giá được đầy đủ chất lượng các hoạt động của DN.2 Cơ sở lý thuyết Khả năng sinh lời là một nội dung phân tích được nhiều người quan tâm, từ các nhà quản trị tài chính, các nhà đầu tư cho tới các tổ chức cho vay, vì nó gắn liền với lợi ích của họ ở hiện tại và tương lai, đồng thời là một trong những cơ sở tham khảo để ra quyết định đầu tư, cho vay hay các quyết định tài chính khác sao cho phù hợp. Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh và hội nhập, hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, để các doanh nghiệp có điều kiện mở rộng thị trường, giải quyết được các vấn đề nâng cao thu nhập, mức sống cho người lao động, thực hiện nghĩa vụ đóng thuế vào ngân sách thì HQHĐKD của doanh nghiệp phải ngày càng tăng lên, khả năng sinh lời của doanh nghiệp cũng ngày được nâng lên. Khả năng sinh lời có mối quan hệ chặt chẽ với năng lực hoạt động và khả năng thanh toán của doanh nghiệp và suy cho cùng thì mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp la tạo ra lợi nhuận. Lợi nhuận là chỉ tiêu tài chính tổng hợp phản ánh hiệu quả của toàn bộ quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nó được xa1x định bằng chênh lệch giữa phần giá trị thực hiện được trong kỳ và toàn bộ chi phí tương xứng để tạo nên giá trị đó, khi doanh nghiệp hoạt động càng hiệu quả thì lợi nhuận thu được càng nhiều.
Tuy nhiên ta cần đặt lợi nhuận trong mối quan hệ so sánh với giá trị đã thực hiện được như với tài sản, với chủ sở hựu, với doanh thu thì mới đánh giá được chính xác HQHĐKD của toàn bộ cũng như từng mặt của hoạt động kinh doanh. Chính vì vậy dể đánh giá HQHĐKD của DN, cũng như khả năng 9 sinh lời, nhà phân tích có thể sử dụng nhiều chỉ tiêu khác nhau mà phổ biến nhất là các TSSL trên doanh thu, tài sản và vốn chủ sở hữu. Tỷ suất sinh lợi trên doanh thu (Return on Sales – ROS) là tỷ lệ của tổng số lợi nhuận trước thuế phát sinh trong năm của doanh nghiệp chia cho tổng doanh thu thuần của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh. Chỉ tiêu TSSL trên doanh thu phản ánh kết quả tiêu thụ được một đồng doanh thu thì có bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Tỷ suất sinh lợi tính theo vốn (Return on Eqquity – ROE) là tỷ lệ so sánh giữa tổng số lợi nhuận trước thuế với vốn sản xuất kinh doanh bình quân trong kỳ, phản ánh chính xác khả năng sinh lợi từ toàn bộ vốn đóng góp của doanh nghiệp. Tỷ suất sinh lợi trên tài sản (Return on Assets – ROA) là tỷ lệ lợi nhuận trước thuế phát sinh trong năm của doanh nghiệp chia cho tổng tài sản bình quân của doanh nghiệp. Chỉ tiêu TSSL trên tài sản cho biết hiệu quả quản lý và sử dụng tài sản để tạo ra thu nhập của doanh nghiệp.3 Các nghiên cứu trước liên quan Nghiên cứu của Nguyễn Quốc Nghi và Mai Văn Nam (2011) về “Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) ở Tp. Cần Thơ”, được đăng trên Tạp chí khoa học 2011 số 19b trang 122 đến trang 129, trường Đại học Cần Thơ.
Tác giả chọn cỡ mẫu là 389 DNNVV và dùng phương pháp thống kê mô tả, phân tích hồi quy tuyến tính đa biến để nghiên cứu. Nghiên cứu của tác giả nêu ra các nhân tố như: Mức độ tiếp cận chính sách hỗ trợ của Chính phủ, trình độ học vấn của chủ doanh nghiệp, quy mô doanh nghiệp, các mối quan hệ xã hội của doanh nghiệp và tốc độ tăng doanh thu ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của DNNVV ở Tp. 10 Luận án tiến sĩ, trường Đại học Kinh tế TPHCM của Đoàn Ngọc Phúc (2014) sử dụng mô hình hồi quy OLS, REM, FEM và một số kiểm định để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của DN nhà nước sau cổ phần hóa ở Việt Nam với tên luận án là “Nâng cao hoạt động kinh doanh của DN nhà nước sau cổ phần hóa ở Việt Nam”, đo lường bằng ROA, ROE của DN nhà nước sau cổ phần hóa ở Việt Nam. Nghiên cứu cho thấy quy mô doanh nghiệp; Sự độc lập của Hội đồng quản trị; Tuổi của doanh nghiệp tác động dương đến ROA, ROE còn sự kiêm nhiệm của Chủ tịch Hội đồng quản trị và giám đốc điều hành thì tác động âm đến ROA, ROE của DN nhà nước sau cổ phần hóa ở Việt Nam.
Nguyễn Minh Tân, Võ Thành Danh và Tăng Thị Ngân (2015) nói về “Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) tại tỉnh Bạc Liêu”, được đăng trên tạp chí khoa học trường Đại học Cần Thơ số 38 năm 2015. Tác giả thực hiện khảo sát 113 DNNVV tại Tỉnh Bạc Liêu và dùng phương pháp phân tích thống kê mô tả, phân tích hồi quy tuyến tính đa biến để phân tích thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp và các nhân tố ảnh hưởng đến HQHĐKD của các DNNVV tại tỉnh Bạc Liêu. Kết quả nghiên cứu cho thấy HQHĐKD của DNNVV tại tỉnh Bạc Liêu được hình thành từ mối tương quan với các nhân tố như: Tiếp cận chính sách hỗ trợ, kinh nghiệm của chủ doanh nghiệp, giới tính, trình độ học vấn, quy mô, mối quan hệ xã hội, tuổi doanh nghiệp và loại hình doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu luận văn thạc sỹ, trường Đại học Cần Thơ của tác giả Hồ Thái Đăng vào năm 2016 về: “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại TP.
Cần Thơ”, cho thấy có 5 nhân tố tác động đến HQHĐKD của các DNNVV tại TP. Cần Thơ: (1) Số lượng lao động; (2) Nguồn vốn kinh doanh; (3)Tốc độ tăng trưởng chi phí; (4) 11 Quy mô doanh nghiệp; (5) Tần số tham gia các hoạt động hỗ trợ của Nhà nước. Nguyễn Thị Diệu Thanh (2016), thực hiện nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến tính ổn định duy trì lợi nhuận của các doanh nghiệp ngành sản xuất hàng tiêu dùng trên thị trường chứng khoán Việt Nam”. Luận văn Thạc sỹ, Trường Đại học Đà Nẵng.
Phương pháp thống kê mô tả, phân tích hồi quy tuyến tính đa biến được sử dụng trong nghiên cứu.