mở đầu bao gồm tổng quan về khóa luận như đưa ra tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và kết cấu của bài. Tiếp theo, tác giả tập trung trình bày nội dung về tổng quan cơ sở lý luận, các lý thuyết liên quan đến giá cổ phiếu và các nhân tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của doanh nghiệp. Thiết kế nghiên cứu: Trên cơ sở các lý thuyết được trình bày ở chương trước, nội dung của chương 2 sẽ trình bày cụ thể các bước tiến hành nghiên cứu đề tài trong thực tiễn, quy trình nghiên cứu, mô hình và giả thuyết nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu: Nội dung của chương 3 bao gồm thực trạng giá cổ phiếu của các CTCP ngành BĐS niêm yết trên TTCK Việt Nam và thực trạng các nhân tố ảnh hưởng lên những cổ phiếu đó.
Dựa trên các số liệu thống kê thực tế thu thập được đưa ra các phân tích, đánh giá, kiểm định sự đúng đắn của mô hình các nhân tố ảnh hưởng được xây dựng sau đó đưa ra kết quả nghiên cứu và giải thích mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu. Kết luận và một số đề xuất, khuyến nghị: Trong chương 4, tác giả sẽ tóm tắt các kết quả nghiên cứu, từ những nội dung kết quả nghiên cứu thu được đưa ra một số giải pháp kiến nghị về các nhân tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu.6 Tổng quan về giá cổ phiếu 1.1 Cổ phiếu Cổ phiếu là chứng chỉ do CTCP phát hành, đây là bút toán ghi sổ xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó. Theo quy định của luật Doanh nghiệp 2020 – Điều 121 – khoản 1, cổ phiếu phải bao gồm các nội dung chủ yếu sau đây: Tên, mã số doanh nghiệp, địa chỉ trụ sở chính của công ty; Số lượng cổ phần và loại cổ phần; Mệnh giá mỗi cổ phần và tổng mệnh giá số cổ phần ghi trên cổ phiếu; Họ, tên, địa chỉ 4 Thư viện ĐH Thăng Long liên lạc, quốc tịch, số giấy tờ pháp lý của cá nhân đối với cổ đông là cá nhân; Tên, mã số doanh nghiệp hoặc số giấy tờ pháp lý của tổ chức, địa chỉ trụ sở chính đối với cổ đông là tổ chức; Chữ ký của người đại diện theo pháp luật của công ty; Số đăng ký tại sổ đăng ký cổ đông của công ty và ngày phát hành cổ phiếu; Nội dung khác theo quy định tại các điều 116, 117 và 118 của Luật này đối với cổ phiếu của cổ phần ưu đãi. Để chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng, công ty cổ phần phải đáp ứng các điều kiện được quy định tại khoản 1 – Điều 15 – Luật Chứng khoán 2019, cụ thể như sau: Mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký chào bán từ 30 tỷ đồng trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán; Hoạt động kinh doanh của 02 năm liên tục liền trước năm đăng ký chào bán phải có lãi, đồng thời không có lỗ lũy kế tính đến năm đăng ký chào bán; Có phương án phát hành và phương án sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán cổ phiếu được Đại hội đồng cổ đông thông qua; Tối thiểu là 15% số cổ phiếu có quyền biểu quyết của tổ chức phát hành phải được bán cho ít nhất 100 nhà đầu tư không phải là cổ đông lớn; trường hợp vốn điều lệ của tổ chức phát hành từ 1.000 tỷ đồng trở lên, tỷ lệ tối thiểu là 10% số cổ phiếu có quyền biểu quyết của tổ chức phát hành; Cổ đông lớn trước thời điểm chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng của tổ chức phát hành phải cam kết cùng nhau nắm giữ ít nhất 20% vốn điều lệ của tổ chức phát hành tối thiểu là 01 năm kể từ ngày kết thúc đợt chào bán; Tổ chức phát hành không thuộc trường hợp đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đã bị kết án về một trong các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế mà chưa được xóa án tích; Có công ty chứng khoán tư vấn hồ sơ đăng ký chào bán cổ phiếu ra công chúng, trừ trường hợp tổ chức phát hành là công ty chứng khoán; Có cam kết và phải thực hiện niêm yết hoặc đăng ký giao dịch cổ phiếu trên hệ thống giao dịch chứng khoán sau khi kết thúc đợt chào bán; Tổ chức phát hành phải mở tài khoản phong tỏa nhận tiền mua cổ phiếu của đợt chào bán.
Cổ phiếu thường chính là loại cổ phiếu phổ biến nhất trong số các loại cổ phiếu của công ty cổ phần. Đây là loại chứng khoán được phát hành rộng rãi ra công chúng, để sở hữu cổ phiếu thường, nhà đầu tư có thể mua chúng trên thị trường sơ cấp khi chúng được phát hành lần đầu hoặc ở trên thị trường thứ cấp qua giao dịch trên thị trường chứng khoán. Khoản 1, 2 – Điều 114 – Luật doanh nghiệp 2020 quy định công ty cổ phần phải có cổ phần phổ thông. Người sở hữu cổ phần phổ thông là cổ đông phổ thông.
Ngoài cổ phần phổ thông, công ty cổ phần có thể có cổ phần ưu đãi. Người sở hữu cổ phần ưu đãi gọi là cổ đông ưu đãi. Cổ phần ưu đãi bao gồm các loại sau đây: Cổ phần ưu đãi cổ tức; Cổ phần ưu đãi hoàn lại; Cổ phần ưu đãi biểu quyết; Cổ phần ưu đãi khác theo quy định tại điều lệnh Công ty và pháp luật về chứng khoán. Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành (khoản 2 – Điều 4 – Luật Chứng khoán 2019).
Theo định nghĩa, người nắm giữ cổ phiếu là chủ sở hữu của công ty chứ không phải chủ nợ vì vậy 5 công ty không có nghĩa vụ phải trả như một khoản nợ đối với công ty. Như vậy, các cổ đông sở hữu cổ phiếu thường sẽ có đầy đủ quyền biểu quyết đối với các quyết định của công ty tại đại hội đồng cổ đông và được hưởng cổ tức dựa trên kết quả kinh doanh và giá trị cổ phiếu mà họ sở hữu. Cổ phiếu phổ thông sẽ được báo cáo đầy đủ trong phần vốn chủ sở hữu của các cổ đông trên bảng cân đối kế toán của mỗi công ty.2 Giá trị của cổ phiếu thường Các hình thức giá trị của cổ phiếu thường bao gồm mệnh giá cổ phiếu, giá trị sổ sách, giá trị lý thuyết và giá trị thị trường (Bạch Đức Hiển (2008)). Mệnh giá cổ phiếu là giá trị mà công ty cổ phần phát hành ấn định cho tờ cổ phiếu và được ghi rõ mệnh giá trên tờ cổ phiếu đó.
Tại Việt Nam, theo quy định tại Điều 13 – Luật chứng khoán năm 2019, mệnh giá cổ phiếu thường được ghi bằng đồng Việt Nam và có giá trị là 10.000 đồng/cổ phiếu. Mệnh giá cổ phiếu không có giá trị thực tế đối với nhà đầu tư khi đã đầu tư nên mệnh giá cổ phiếu sẽ không liên quan đến giá trị thị trường của cổ phiếu đó. Vì vậy mà nó còn được gọi là giá trị danh nghĩa của cổ phiếu và không có sự thay đổi theo thời gian. Nói cách khác mệnh giá không được sử dụng làm thước đo giá trị thực của cổ phiếu.
Mệnh giá cổ phiếu thường chỉ có ý nghĩa quan trọng vào thời điểm công ty phát hành cổ phiếu thường trong lần đầu tiên huy động vốn và thành lập công ty. Tại thời điểm đó mệnh giá thể hiện số tiền tối thiểu công ty phải nhận được trên mỗi cổ phiếu mà công ty phát hành ra. Mệnh giá cổ phiếu được công ty sử dụng để tính toán tổng số vốn pháp định cũng như tổng số cổ phần của công ty. Giá trị sổ sách của cổ phiếu là giá trị của cổ phiếu được xác định dựa trên số liệu sổ sách kế toán của các công ty, phản ánh tính trạng vốn cổ phần tại một thời điểm nhất định.
Giá trị sổ sách của cổ phiếu viết tắt là BVPS (Book Value Per Share). Có thể hiểu, BVPS là tỷ lệ vốn chủ sở hữu dành cho cổ đông phổ thông chia cho số lượng cổ phiếu đang lưu hành. Con số này đại diện cho giá trị tối thiểu của vốn chủ sở hữu một công ty và đo lường giá trị sổ sách của một công ty trên cơ sở mỗi cổ phiếu. Giá trị của nó nằm ở chỗ các nhà đầu tư sử dụng nó để đánh giá xem giá cổ phiếu có bị định giá thấp hay không bằng cách so sánh nó với giá trị thị trường của công ty trên mỗi cổ phiếu.
Nếu BVPS của một công ty cao hơn giá trị thị trường trên mỗi cổ phiếu, tức là giá cổ phiếu hiện tại của nó, thì cổ phiếu đó được coi là định giá thấp và ngược lại. Giá trị sổ sách của cổ phiếu được tính toán qua công thức sau: 𝑉ố𝑛 𝑐ℎủ 𝑠ở ℎữ𝑢 − 𝑇à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑣ô ℎì𝑛ℎ − 𝑁ợ 𝐵𝑉𝑃𝑆 = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑠ố 𝑐ổ 𝑝ℎ𝑖ế𝑢 đ𝑎𝑛𝑔 𝑙ư𝑢 ℎà𝑛ℎ Giá trị lý thuyết của cổ phiếu (giá trị nội tại) là giá trị thực của một cổ phiếu tại thời điểm hiện tại, được tính dựa vào cổ tức, triển vọng phát triển doanh nghiệp và lãi suất thị trường. Đây là căn cứ quan trọng cho nhà đầu tư khi quyết định đầu tư vào cổ phiếu, đánh giá được giá trị thực của cổ phiếu để so sánh với giá thị trường và lựa chọn 6 Thư viện ĐH Thăng Long phương án hiệu quả nhất. Giá trị thực của cổ phiếu được tính toán và đo lường bằng các phương pháp khác nhau, tuy nhiên về cơ bản có 2 phương pháp được áp dụng là: phương pháp chiết khấu dòng tiền và phương pháp định giá so sánh.
Phương pháp chiết khấu dòng tiền (Discounted Cash Flow, DCF) là phương pháp định giá cổ phiếu thực hiện dựa trên nguyên lý: giá trị nội tại của doanh nghiệp hiện tại là tổng các dòng tiền tương lai mà công ty sẽ trả cho cổ đông của mình. Cơ sơ chiết khấu dòng tiền là ước lượng dòng tiền trong tương lai mà nhà đầu tư nhận được từ đó chiết khấu về thời điểm hiện tại với tỷ suất chiết khấu k. Phương pháp chiết khấu dòng tiền bao gồm: phương pháp chiết khấu dòng cổ tức, phương pháp chiết khấu dòng tiền tự do cho toàn bộ doanh nghiệp và phương pháp chiết khấu dòng tiền tự do VCSH. Phương pháp chiết khấu dòng tiền có thể sử dụng cho nhiều loại hình công ty khác nhau.