Chương 1 đã trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu cũng như phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn của đề tài. Bên cạnh đó, chương này cũng đã định hướng cho những nội dung tiếp theo của các chương. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT, TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Khái quát lý thuyết về đầu tư trực tiếp nước ngoài 2.1 Khái niệm, đặc điểm đầu tư trực tiếp nước ngoài Theo Tổ chức thương mại thế giới (WTO): đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Với khái niệm này, phương diện quản lý là một khía cạnh để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác.
Phần lớn các trường hợp, nhà đầu tư cùng với tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD): FDI là hoạt động đầu tư nhằm đạt được lợi ích lâu dài trong doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp. Như vậy, FDI là sự đầu tư với quan hệ dài hạn, phản ánh lợi ích và sự kiểm soát lâu dài của một chủ thể thường trú trong một nền kinh tế (công ty mẹ) tại một doanh nghiệp trong một nền kinh tế khác không phải là nền kinh tế nhà đầu tư nước ngoài (doanh nghiệp FDI, công ty chi nhánh, chi nhánh ở nước ngoài). Theo Luật Đầu tư của Việt Nam (2014): FDI được hiểu là việc nhà đầu tư nước ngoài, là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài đưa vốn bằng tiền hoặc bất cứ hình thức tài sản nào vào Việt Nam để tiến hành hoạt động đầu tư, và có tham gia quản lý hoạt động kinh doanh tại Việt Nam.
Ở đây hoạt động FDI có khác với các hình thức đầu tư nước ngoài khác là có sự trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư. Từ những định nghĩa trên, ta có thể rút ra một số đặc điểm của FDI: - Thứ nhất, FDI chủ yếu là đầu tư tư nhân của các đối tác từ nước ngoài với mục đích chính là tìm kiếm lợi nhuận. Các nhà đầu tư nước ngoài phải đóng góp một tỷ lệ vốn tối thiểu trong vốn pháp định hoặc vốn điều lệ tùy theo quy định pháp LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 luật của từng quốc gia để giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát doanh nghiệp nhận đầu tư. Tỷ lệ đóng góp của các bên trong vốn điều lệ hoặc vốn pháp định sẽ quy định quyền và nghĩa vụ của mỗi bên, làm căn cứ để phân chia lợi nhuận và rủi ro.
Thu nhập chủ đầu tư thu được phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp mà họ bỏ vốn đầu tư. Chủ đầu tư tự quyết định về hình thức, lĩnh vực, quy mô đầu tư và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. -Thứ hai, FDI liên quan đến việc chuyển giao một gói tài sản gồm: vốn, công nghệ, kỹ năng quản lý, tổ chức từ nước này sang nước khác. Từ đó, nước chủ nhà có thể tiếp nhận công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý.
Đây là mục tiêu mà các hình thức đầu tư khác không giải quyết được. Nguồn vốn đầu tư có thể là nguồn vốn đầu tư ban đầu của nhà đầu tư nước ngoài dưới hình thức vốn pháp định, nguồn vốn tái đầu tư từ lợi nhuận, nguồn vốn vay của doanh nghiệp để mở rộng dự án trong quá trình hoạt động. Tóm lại, có thể hiểu: FDI là hình thức đầu tư mà nhà đầu tư nước ngoài đầu tư toàn bộ hay phần vốn đầu tư đủ lớn nhằm giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát doanh nghiệp ở nước chủ nhà.2 Các loại hình đầu tư trực tiếp nước ngoài Theo hình thức tham gia mức độ góp vốn vào dự án đầu tư, có 4 hình thức FDI. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập mới, mua lại, tự quản lý và chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh.
Doanh nghiệp liên doanh là hình thức đầu tư mà một doanh nghiệp được thành lập dựa trên cơ sở góp vốn của hai hay nhiều bên của nước nhận đầu tư và nước đi đầu tư. Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh là hình thức đầu tư được ký kết giữa hai hoặc nhiều bên để cùng tiến hành sản xuất kinh doanh, nó quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên mà không thành lập pháp nhân mới. Các hình thức khác như hợp đồng xây dựng – kinh doanh - chuyển giao (BOT), hợp đồng xây dựng - chuyển giao,… là hình thức đầu tư mà nhà đầu tư ký kết với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện đầu tư và vận hành dự án hạ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 tầng trong các lĩnh vực như giao thông, cấp thoát nước, điện, xử lý chất thải và các lĩnh vực khác. Theo hình thức thâm nhập tìm thị trường, FDI gồm 2 loại: đầu tư mới và mua lại, sáp nhập qua biên giới.
Đầu tư mới là hoạt động đầu tư trực tiếp để hình thành cơ sở kinh doanh mới ở nước ngoài, hoặc mở rộng cơ sở đã tồn tại. Mua lại, sáp nhập qua biên giới là hình thức liên quan đến mua lại hoặc hợp nhất với một cơ sở kinh doanh nước ngoài đang hoạt động.3 Hướng tiếp cận về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài Với những tác động tích cực, FDI có những lợi ích tiềm năng to lớn. Vì vậy hầu hết các quốc gia rất quan tâm tới vấn đề làm sao để gia tăng thu hút dòng vốn này vào quốc gia mình bằng những chính sách khác nhau. Từ đó, thuật ngữ thu hút FDI được sử dụng phổ biến trong nghiên cứu lẫn thực tiễn ở các nước chủ nhà.
Có 2 quan niệm về thu hút FDI như sau: Thứ nhất, tiếp cận với quan điểm “hành động” của nước chủ nhà. Vấn đề thu hút FDI được hiểu là tập hợp các hành động, chính sách của chính phủ, của chính quyền các địa phương để gia tăng sự hấp dẫn của một địa điểm đầu tư, kích thích nhà ĐTNN đưa ra quyết định bỏ vốn đầu tư, từ đó làm gia tăng dòng chảy FDI vào một địa phương, quốc gia, được biểu hiện thông qua số lượng FDI đăng ký thực hiện trong một thời kỳ nhất định. Trên phương diện này, thu hút FDI bao gồm các công việc như: ban hành các chính sách, tổ chức thực hiện, đánh giá và điều chỉnh chính sách cho phù hợp để thu hút FDI của chính quyền địa phương và nước chủ nhà. Từ đó, các nước chủ nhà sẽ thực hiện các công việc như: xúc tiến đầu tư, cải tiến môi trường đầu tư và các chính sách ưu đãi, hỗ trợ cho nhà ĐTNN như miễn giảm thuế, hỗ trợ chi phí thuê đất, giải phóng mặt bằng.
Tuy nhiên, cách tiếp cận này chủ yếu dựa trên cơ sở đánh giá chủ quan của nước chủ nhà mà không quan tâm tới dự định, hành vi và các yếu tố ảnh hưởng đến dự định hành vi ra quyết định địa điểm của nhà ĐTNN nên việc điều chỉnh chính sách có thể không mang lại hiệu quả. Bởi theo các chuyên gia, quyết định địa điểm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 đầu tư FDI được đưa ra từ nhận thức của các nhà quản lý cao cấp, chứ không phải là công thức khoa học. Thứ hai, tiếp cận từ quan niệm “hành vi” của nhà đầu tư. Thuật ngữ thu hút FDI được hiểu là sự hấp dẫn của địa điểm đầu tư kích thích nhà ĐTNN hình thành ý định và thực hiện hành vi ra quyết định lựa chọn địa điểm đầu tư.
Từ đó làm gia tăng dòng chảy FDI vào một địa phương, quốc gia biểu hiện thông qua số lượng FDI đăng ký, thực hiện trong một thời gian nhất định. Đây là vấn đề được các nhà nghiên cứu quan tâm với mục đích xác định các nhân tố ảnh hưởng đến ý định và hành vi ra quyết định chọn địa điểm đầu tư nhằm: làm cơ sở để nước chủ nhà xây dựng chính sách liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng như: tạo nên sự hấp dẫn của địa phương thông qua việc cung cấp sự thuận lợi của các yếu tố đầu vào, đầu ra của quá trình kinh doanh (CSHT, lao động, thị trường và công nghệ,…) nhằm kích thích sự hình thành ý định và đưa ra hành vi quyết định đầu tư của nhà ĐTNN. Trên phương diện nghiên cứu “hành vi” này, các nhà nghiên cứu thường thực hiện dựa trên cơ sở lý thuyết hànhvi dự định được Ajzen và Fishhein xây dựng từ những năm 1975 (là lý thuyết tiên phong trong nghiên cứu tâm lý xã hội). Theo lý thuyết hành vi thì hành vi được quyết định bởi ý định thực hiện hành vi đó.
Nên ta có thể hiểu, các nhân tố ảnh hưởng đến ý định đầu tư và hành vi ra quyết định lựa chọn địa điểm đầu tư của nhà ĐTNN được cho là tương đồng. Ba yếu tố ảnh hưởng tới là thái độ, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi, trong đó, thái độ của cá nhân được đo lường bằng niềm tin và đánh giá đối với kết quả của hành vi đó. Chuẩn chủ quan là nhận thức của những người ảnh hưởng sẽ nghĩ rằng, cá nhân đó nên hay không nên thực hiện hành vi. Nhận thức kiểm soát hành vi phản ảnh việc dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện hành vi và việc thực hiện hành vi đó có bị kiểm soát hay hạn chế không.
Quyết định lựa chọn địa điểm đầu tư ban đầu, duy trì hay mở rộng đầu tư là quyết định mang tính chiến lược do ban điều hành, ban quản lý cấp cao ở công ty đưa ra. Ban quản lý công ty con không đủ thẩm quyền đo bị hạn chế tầm nhìn, tầm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 quan trọng trong vấn đề ra quyết định, họ chỉ có kiến thức, thông tin ở khu vực mình quản lý và báo cáo tình hình cho ban điều hành công ty mẹ có thể so sánh với địa điểm khác để ra quyết định.