Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Quá trình gia tăng dân số, đô thị hóa và công nghiệp hóa nhanh chóng đã kéo theo sự gia tăng mạnh mẽ về khối lượng cũng như tính chất phức tạp của chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH). Theo số liệu được dẫn từ Báo cáo Hiện trạng Môi trường Quốc gia năm 2019, lượng CTRSH phát sinh tại các đô thị ở Việt Nam đạt mức 35.624 tấn/ngày và ở khu vực nông thôn là 28.394 tấn/ngày; tổng khối lượng CTRSH toàn quốc năm 2019 tăng 46% so với năm 2010. Công tác quản lý chất thải rắn tại nhiều địa phương còn bộc lộ nhiều hạn chế: tỷ lệ thu gom khu vực nông thôn chưa cao, hoạt động phân loại rác tại nguồn chưa được triển khai đồng bộ, tỷ lệ tái chế còn thấp và phương thức xử lý chủ yếu vẫn là chôn lấp không hợp vệ sinh.

Tại tỉnh Thanh Hóa, khối lượng CTRSH phát sinh ước tính khoảng 2.200 tấn/ngày/đêm. Khối lượng được thu gom, xử lý đạt 1.878,6 tấn/ngày/đêm (tương đương tỷ lệ 85,39%), trong đó xử lý bằng hình thức chôn lấp chiếm 69,4%, công nghệ đốt chiếm 27,27% và tái chế chỉ chiếm 3,33%. Xét theo vùng địa lý, tỷ lệ thu gom xử lý ở khu vực đồng bằng đạt 92,62%, ven biển đạt 89,58%, và vùng trung du, miền núi đạt 76,26%. Huyện Hoằng Hóa nằm trong nhóm 12 đơn vị cấp huyện của tỉnh đạt tỷ lệ thu gom, xử lý từ 90% trở lên. Tuy nhiên, việc quản lý rác thải sinh hoạt phát sinh từ các hộ gia đình trên địa bàn huyện vẫn đặt ra nhiều thách thức đối với môi trường cảnh quan và sức khỏe cộng đồng. Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Trọng Hoàng được thực hiện nhằm đánh giá mô hình Nhận thức - Thái độ - Hành vi (KPA) của người dân địa phương đối với việc tái sử dụng, tái chế và giảm thiểu CTRSH.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài bao gồm:

  1. Mục tiêu chung: Tìm hiểu và phân tích KPA (nhận thức, thái độ, hành vi) của hộ gia đình về tái sử dụng chất thải rắn sinh hoạt tại huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
  2. Mục tiêu cụ thể:
    • Mục tiêu 1: Tìm hiểu điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội tại huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
    • Mục tiêu 2: Tìm hiểu thực trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
    • Mục tiêu 3: Đánh giá sự hiểu biết, nhận thức của các hộ gia đình về tác hại của chất thải rắn sinh hoạt đối với môi trường và sức khỏe.
    • Mục tiêu 4: Đề xuất các biện pháp nâng cao ý thức quản lý CTRSH và các phương pháp tái sử dụng chất thải rắn sinh hoạt hợp lý cho cộng đồng dân cư.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Nhận thức, thái độ và hành vi của hộ gia đình về việc tái sử dụng, tái chế và giảm thiểu CTRSH.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu thực địa tại xã Hoằng Đức và thị trấn Bút Sơn, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
  • Phạm vi thời gian: Số liệu và các hoạt động nghiên cứu được thực hiện từ tháng 10/2021 đến tháng 02/2022.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thiết lập nền tảng nghiên cứu dựa trên các khái niệm chuyên ngành khoa học môi trường về thành phần, đặc tính vật lý (khối lượng riêng, độ ẩm, kích thước), đặc tính hóa học (thành phần nguyên tố C, H, O, N, S, tro; nhiệt trị theo đơn vị Btu/lb và kJ/kg) và đặc tính sinh học của CTRSH (quá trình phân hủy kỵ khí sinh các hợp chất khí như $CH_4$, $CO_2$, $H_2S$, $PH_3$, axit béo bay hơi). Nghiên cứu căn cứ vào khung quy định pháp lý của Luật Bảo vệ Môi trường năm 2020 (hiệu lực bắt buộc phân loại CTRSH từ ngày 01/01/2022 thành 3 nhóm: chất thải có khả năng tái sử dụng/tái chế, chất thải thực phẩm, và CTRSH khác).

Nghiên cứu sử dụng kết hợp các phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu thực nghiệm xã hội học môi trường:

  • Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Thu thập dữ liệu khí tượng thủy văn, điều kiện kinh tế - xã hội năm 2021 của huyện Hoằng Hóa; các số liệu thống kê quản lý chất thải từ Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thanh Hóa, Báo cáo Hiện trạng Môi trường Quốc gia năm 2019, cùng các nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến quản lý chất thải rắn đô thị (MSW).
  • Phương pháp điều tra và phỏng vấn xã hội học: Tiến hành phỏng vấn trực tiếp bằng bảng hỏi đối với 60 hộ gia đình (quy mô 260 nhân khẩu) trong thời gian từ ngày 08/02/2022 đến ngày 14/02/2022. Địa bàn khảo sát phân bổ đồng đều gồm 30 hộ tại xã Hoằng Đức và 30 hộ tại thị trấn Bút Sơn. Bảng hỏi tập trung vào: thông tin nhân khẩu học, thu nhập, khối lượng và thành phần rác thải phát sinh, mức độ nhận thức về tác hại môi trường, thái độ đối với chính sách giảm thiểu, và hành vi phân loại, tái chế thực tế.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu điều tra được số hóa, tổng hợp và phân tích bằng các công cụ thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình, khoảng biến thiên Min - Max) và phương pháp phân tích so sánh trên phần mềm Microsoft Excel.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn về CTRSH trên phạm vi quốc tế và tại Việt Nam:

  • Khái niệm và đặc tính CTRSH: Phân loại thành phần cháy được (giấy, dệt, thực phẩm, gỗ rơm, chất dẻo, da cao su) và không cháy được (kim loại sắt/phi sắt, thủy tinh, đá sành sứ). Khối lượng riêng rác sinh hoạt đô thị dao động từ 178 đến 415 $\text{kg/m}^3$ (trung bình $297\text{ kg/m}^3$), độ ẩm chất thải thực phẩm chiếm 50 - 80%.
  • Hiện trạng phát sinh trên thế giới: Tỷ lệ phát sinh CTRSH trung bình toàn cầu đạt khoảng 0,74 kg/người/ngày (dao động từ 0,11 đến 4,54 kg/người/ngày). Tổng khối lượng MSW toàn cầu năm 2016 đạt khoảng 2 tỷ tấn, trong đó khu vực Đông Á - Thái Bình Dương chiếm tỷ trọng lớn nhất (23%, tương đương 468 triệu tấn). Cơ cấu thành phần rác thải toàn cầu ghi nhận chất thải thực phẩm chiếm 44%, giấy và bìa các-tông chiếm 17%, nhựa chiếm 12%. Tác giả đối chiếu số liệu từ Mỹ (năm 2018 phát sinh 292,4 triệu tấn, bình quân 4,9 pound/người/ngày), Đô thị Ilorin - Nigeria (1,3 kg/người/ngày), Thành phố Dir City - Pakistan (0,37 kg/người/ngày), Douala - Cameroon (0,54 kg/người/tháng).
  • Tác động tiêu cực: Phân tích cơ chế ô nhiễm đất qua nước rỉ rác chứa kim loại nặng; ô nhiễm nguồn nước mặt gây cản trở quang hợp và yếm khí; ô nhiễm không khí do khí bãi chôn lấp ($CH_4$ chiếm 45 - 65%, $CO_2$ chiếm 35 - 40%, $H_2S$, mercaptan, axit bay hơi $C_2 - C_4$, phosphin gây độc ở 0,3 - 1,0 ppm) và khí độc từ đốt hở (dioxin/furan). Dẫn chứng các tác động sức khỏe tại bãi rác Đông Thạnh (huyện Hóc Môn, TP.HCM).
  • Mô hình thực tiễn và chính sách: Tổng hợp các mô hình phân loại rác và tái chế hiệu quả của Hội Phụ nữ tại TP.HCM (CLB Phụ nữ Quận 6 thu gom hơn 5.000 kg giấy vụn năm 2020; mô hình khởi nghiệp tái chế tại Phường 10; lớp học tái chế nhựa Phường 13) và Hà Nội (trồng cây bằng can nhựa ở Cầu Giấy; tận dụng rơm rạ trồng nấm rơm ở Đông Anh; dùng túi giấy ở Hoàn Kiếm). Trình bày các chính sách thu đổi vỏ chai, tỷ lệ tái chế bắt buộc tại Hàn Quốc (đạt 92% rác nhựa năm 2017) và các gói tài trợ từ Ngân hàng Thế giới tại Philippines, Belarus, Trung Quốc, Argentina, Pakistan và Burkina Faso.

Chương 2: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương này mô tả chi tiết thiết kế nghiên cứu thực nghiệm:

  • Xác định đối tượng khảo sát là KPA của hộ gia đình trên địa bàn 2 đơn vị hành chính đại diện (xã Hoằng Đức - khu vực nông thôn và thị trấn Bút Sơn - khu vực đô thị hóa) trong khoảng thời gian từ tháng 10/2021 đến tháng 02/2022.
  • Quy định cụ thể 3 nội dung nghiên cứu cốt lõi tương ứng với 3 thành tố: (1) Nhận thức, (2) Thái độ, và (3) Hành vi của hộ gia đình đối với các dòng rác thải sinh hoạt có khả năng thu hồi, tái chế và tái sử dụng.
  • Quy chuẩn hóa quy trình điều tra 60 hộ dân trong 7 ngày thực địa, cấu trúc các biến số nhân khẩu học, biến số đo lường lượng thải và thái độ chấp hành quy định phân loại rác theo Luật Bảo vệ Môi trường 2020.

Chương 3: Kết quả và thảo luận

Chương 3 trình bày các kết quả phân tích số liệu thực tế tại huyện Hoằng Hóa:

  • Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội: Hoằng Hóa có diện tích 20.380,19 ha, dân số 226.495 người với 43 xã, thị trấn, bờ biển dài 12 km và 2 cửa lạch lớn (Lạch Trào, Lạch Trường). Năm 2021, tốc độ tăng giá trị sản xuất toàn huyện đạt 12,3%; trong đó nông - lâm - thủy sản đạt 2.722 tỷ đồng, công nghiệp - xây dựng đạt 8.998 tỷ đồng, dịch vụ - thương mại đạt 5.863 tỷ đồng.
  • Đặc điểm mẫu điều tra:
    • Trong 60 người đại diện hộ trả lời phỏng vấn, 63% (38 người) là người nội trợ chính, 37% (22 người) không phải nội trợ chính.
    • Độ tuổi dao động từ 26 đến 66 tuổi (trung bình 46 tuổi); nhóm < 46 tuổi chiếm 55%, nhóm $\ge 46$ tuổi chiếm 45%.
    • Quy mô hộ: phổ biến nhất là hộ 4 người (33,3%), hộ 5 người (28,3%), hộ 3 người (18,4%), hộ 6 người (11,7%), hộ 2 người (5,0%) và hộ 7 người (3,3%).
    • Nghề nghiệp: Công nhân chiếm 30,0%, buôn bán chiếm 23,3%, làm ruộng chiếm 10,0%, nội trợ và nhân viên văn phòng đều chiếm 8,3%, giáo viên và hưu trí đều chiếm 6,7%, còn lại là các nghề khác (6,7%).
    • Thu nhập năm 2021: Mức bình quân là 230 triệu đồng/hộ/năm (biến thiên từ 100 đến 360 triệu đồng); nhóm hộ có thu nhập < 230 triệu đồng chiếm 78,3% (47 hộ), nhóm $\ge 230$ triệu đồng chiếm 21,7% (13 hộ).
  • Hiện trạng phát sinh và biện pháp xử lý CTRSH tại hộ:
    • Tổng lượng CTRSH phát sinh trung bình của 1 hộ là 457,13 kg/năm.
    • Rác thực phẩm: Phát sinh trung bình 336,585 kg/hộ/năm, chiếm tỷ trọng lớn nhất. Cơ cấu gồm: rau, củ, quả chiếm 81% (272,53 kg); cơm thừa chiếm 15% (48,905 kg); thịt cá chiếm 4% (14,69 kg). Phương thức xử lý: 34,5% khối lượng được tận dụng làm thức ăn chăn nuôi, 65,5% thải bỏ trực tiếp vào thùng rác.
    • Giấy và bìa các-tông: Phát sinh trung bình 55,375 kg/hộ/năm. Xử lý: 53% số hộ chọn bỏ vào thùng rác chung, 47% số hộ thu gom để bán phế liệu.
    • Chai, lọ, nhựa: Phát sinh trung bình 35,96 kg/hộ/năm. Xử lý: 70% số hộ thu gom bán phế liệu, 30% số hộ thải vào thùng rác.
    • Túi nilon: Mức thải bỏ trung bình đạt 1,8 chiếc/người/ngày. Xử lý: 45% số người được hỏi chọn phương pháp tái sử dụng, 55% thải bỏ vào thùng rác.
    • Kim loại: Phát sinh trung bình 29,21 kg/hộ/năm. Xử lý: 52,1% số hộ bỏ vào thùng rác, 47,9% số hộ thu gom bán.
    • Chất thải cồng kềnh và kim loại nặng: 2 hộ phát thải sắt phế liệu trung bình 130 kg/năm; 1 hộ phát thải vỏ xe hỏng 104 kg/năm (100% thu gom bán phế liệu).
    • Rác thải điện tử gia dụng: Tần suất thải bỏ trung bình đối với tivi là 11,0 năm (81% bán phế liệu, 19% thải trực tiếp ra môi trường); tủ lạnh là 11,4 năm (100% bán); điều hòa nhiệt độ là 7,5 năm (100% bán).
    • Rác thải điện tử cá nhân: Tần suất thải bỏ trung bình đối với điện thoại di động là 4,9 năm (89,5% bán, 3,5% bỏ thùng rác, 3,5% thải ra môi trường, 3,5% cho trẻ em chơi); sạc pin điện thoại là 2,9 năm (100% bỏ thùng rác); tai nghe là 2,0 năm (100% bỏ thùng rác).
  • Hiện trạng KPA về thu hồi, tái chế, tái sử dụng CTRSH:
    • Nhận thức (K): Hầu hết hộ gia đình nhận biết được các loại CTRSH có khả năng tái chế/tái sử dụng; trên 98% hộ nắm bắt được các tác động tiêu cực của CTRSH đến môi trường sống và sức khỏe con người.
    • Thái độ (A): Trên 60% số hộ thể hiện thái độ tích cực, đồng thuận với các chủ trương, biện pháp giảm thiểu và tái chế chất thải.
    • Hành vi (P): Hành vi thực tế chưa tương xứng với nhận thức và thái độ. Tỷ lệ hộ dân thực hiện phân loại CTRSH tại nguồn chỉ đạt dưới 9%. Các hành vi tái sử dụng và thu gom tái chế có diễn ra nhưng tần suất không thường xuyên.
  • Đề xuất giải pháp: Kiến nghị chính quyền cơ sở đẩy mạnh tuyên truyền đồng bộ, hoàn thiện hạ tầng thu gom phân loại tại nguồn và ban hành chính sách hỗ trợ kinh tế cho hoạt động thu gom phế liệu tại khu dân cư.

Kết quả và đóng góp

Bảng tổng hợp phát sinh và phương thức xử lý CTRSH tại hộ gia đình

Dưới đây là bảng số liệu tổng hợp định lượng về tình hình phát sinh và biện pháp xử lý rác thải sinh hoạt từ kết quả khảo sát 60 hộ dân tại huyện Hoằng Hóa:

Thành phần chất thải rắn Khối lượng / Tần suất phát sinh Tỷ trọng thành phần Phương thức xử lý của hộ gia đình
Rác thực phẩm 336,585 kg/hộ/năm 81% Rau, củ, quả (272,53 kg)
15% Cơm thừa (48,905 kg)
4% Thịt, cá (14,69 kg)
34,5% Dùng chăn nuôi
65,5% Thải bỏ vào thùng rác
Giấy, bìa các-tông 55,375 kg/hộ/năm — 47% Thu gom bán phế liệu
53% Bỏ vào thùng rác
Chai, lọ, nhựa 35,960 kg/hộ/năm — 70% Thu gom bán phế liệu
30% Bỏ vào thùng rác
Túi nilon 1,8 chiếc/người/ngày — 45% Tái sử dụng
55% Bỏ vào thùng rác
Kim loại 29,210 kg/hộ/năm — 47,9% Thu gom bán phế liệu
52,1% Bỏ vào thùng rác
Sắt vụn phế liệu 130 kg/năm (ghi nhận ở 2 hộ) — 100% Thu gom bán phế liệu
Vỏ xe hỏng 104 kg/năm (ghi nhận ở 1 hộ) — 100% Thu gom bán phế liệu
Tivi 11,0 năm/thiết bị — 81% Bán phế liệu
19% Thải ra môi trường
Tủ lạnh 11,4 năm/thiết bị — 100% Bán phế liệu
Điều hòa nhiệt độ 7,5 năm/thiết bị — 100% Bán phế liệu
Điện thoại di động 4,9 năm/thiết bị — 89,5% Bán phế liệu
3,5% Bỏ vào thùng rác
3,5% Thải ra môi trường
3,5% Giữ lại cho trẻ em chơi
Sạc pin điện thoại 2,9 năm/thiết bị — 100% Bỏ vào túi/thùng rác
Tai nghe 2,0 năm/thiết bị — 100% Bỏ vào túi/thùng rác

Đóng góp thực tiễn và phát hiện của đề tài

  • Cung cấp bộ dữ liệu vi mô chi tiết về lượng phát thải trung bình hàng năm (457,13 kg/hộ/năm) và chu kỳ thải bỏ thiết bị điện tử gia dụng/cá nhân tại địa bàn huyện Hoằng Hóa năm 2022.
  • Chỉ ra "khoảng cách lớn" giữa nhận thức, thái độ và hành vi thực tế của cộng đồng dân cư: mặc dù tỷ lệ nhận thức về tác hại môi trường đạt trên 98% và thái độ tích cực đạt trên 60%, tỷ lệ hộ gia đình thực hiện phân loại rác tại nguồn chỉ đạt dưới 9%.
  • Xác định động lực thúc đẩy tái chế hiện nay của hộ gia đình chủ yếu mang tính kinh tế (thu gom chai lọ nhựa đạt 70% để bán ve chai/phế liệu), trong khi các dòng rác có giá trị phế liệu thấp hoặc lẫn tạp chất (giấy bìa bẩn, sạc pin, tai nghe hỏng) có tỷ lệ bỏ vào thùng rác chung rất cao.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế về quy mô mẫu và địa bàn: Nghiên cứu thực hiện khảo sát trên cỡ mẫu gồm 60 hộ gia đình tại 2 đơn vị hành chính (xã Hoằng Đức và thị trấn Bút Sơn). Quy mô này chưa bao quát toàn diện đặc điểm phát thải và tập quán sinh hoạt của toàn bộ 43 xã, thị trấn thuộc các vùng sinh thái khác nhau của huyện Hoằng Hóa (vùng ven biển, vùng thuần nông, vùng bãi màu).
  • Hạn chế về công cụ phân tích: Nghiên cứu chủ yếu sử dụng các chỉ số thống kê mô tả trên Excel, chưa áp dụng các mô hình hồi quy đa biến hoặc phân tích nhân tố khám phá để xác định mức độ tác động của các yếu tố kinh tế, trình độ học vấn và độ tuổi đến hành vi KPA.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng quy mô khảo sát mẫu trên toàn huyện Hoằng Hóa và các địa bàn lân cận; xây dựng các mô hình định lượng đánh giá các rào cản tâm lý - xã hội cản trở hành vi phân loại rác tại nguồn sau khi Luật Bảo vệ Môi trường 2020 đi vào thực thi bắt buộc.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng học thuật: Tài liệu là nguồn tham khảo cho sinh viên, học viên chuyên ngành Quản lý Môi trường, Khoa học Môi trường, Xã hội học Nông thôn và Phát triển Bền vững khi thực hiện đề tài về phân loại CTRSH tại nguồn và khảo sát hành vi cộng đồng.
  • Giá trị thực tiễn quản lý: Báo cáo cung cấp căn cứ thực tế cho Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Hoằng Hóa, UBND các xã/thị trấn, Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp trong việc xây dựng kế hoạch tuyên truyền phân loại rác thải tại nguồn và thiết kế mạng lưới thu gom CTRSH nông thôn phù hợp với điều kiện địa phương.

Câu hỏi thường gặp

1. Khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trung bình của một hộ gia đình tại huyện Hoằng Hóa là bao nhiêu?
Theo kết quả khảo sát thực tế 60 hộ dân trong nghiên cứu, tổng khối lượng CTRSH phát sinh trung bình của một hộ gia đình trong 1 năm là 457,13 kg. Trong đó, rác thực phẩm chiếm tỷ trọng lớn nhất với 336,585 kg/hộ/năm (rau, củ, quả chiếm 81%), tiếp theo là giấy bìa các-tông (55,375 kg/hộ/năm), chai lọ nhựa (35,96 kg/hộ/năm) và kim loại (29,21 kg/hộ/năm).

2. Người dân huyện Hoằng Hóa xử lý rác thải nhựa và túi nilon như thế nào?
Đối với chai, lọ nhựa, có 70% số hộ chọn biện pháp thu gom để bán phế liệu và 30% vứt bỏ vào thùng rác. Đối với túi nilon, lượng phát thải trung bình là 1,8 chiếc/người/ngày; trong đó 45% người được phỏng vấn chọn tái sử dụng và 55% thải bỏ trực tiếp vào thùng rác.

3. Chu kỳ thải bỏ các thiết bị điện tử gia dụng và cá nhân của người dân địa phương diễn ra trong bao lâu?
Nghiên cứu ghi nhận chu kỳ thải bỏ trung bình của thiết bị điện tử gia dụng là: tivi 11,0 năm; tủ lạnh 11,4 năm; điều hòa 7,5 năm. Đối với thiết bị điện tử cá nhân: điện thoại di động là 4,9 năm; sạc pin điện thoại là 2,9 năm; tai nghe là 2,0 năm. Hầu hết các thiết bị lớn (tủ lạnh, điều hòa, tivi) và điện thoại đều được gom bán phế liệu, trong khi 100% sạc pin và tai nghe hỏng bị vứt vào túi rác chung.

4. Kết quả đánh giá ba thành tố KPA (Nhận thức, Thái độ, Hành vi) của các hộ gia đình có điểm gì đáng chú ý?
Nghiên cứu chỉ ra sự bất đối xứng giữa nhận thức, thái độ và hành động: có trên 98% hộ gia đình nhận biết rõ tác hại của CTRSH và trên 60% có thái độ đồng thuận, tích cực đối với việc giảm thiểu chất thải; tuy nhiên, tỷ lệ hộ thực tế tiến hành phân loại CTRSH tại nguồn chỉ đạt dưới 9%.

5. Cơ cấu mẫu khảo sát 60 hộ gia đình tại huyện Hoằng Hóa có đặc điểm gì?
Khảo sát gồm 60 người đại diện (38 người là nội trợ chính, chiếm 63%). Độ tuổi trung bình là 46 tuổi (dao động từ 26 đến 66 tuổi). Quy mô hộ phổ biến nhất là 4 người (33,3%) và 5 người (28,3%). Nghề nghiệp chính gồm công nhân (30,0%), buôn bán (23,3%) và làm ruộng (10,0%). Thu nhập bình quân đạt 230 triệu đồng/hộ/năm, trong đó 78,3% hộ có thu nhập dưới 230 triệu đồng.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Trọng Hoàng đã hoàn thành việc khảo sát và lượng hóa hiện trạng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt cùng mô hình KPA của 60 hộ gia đình tại xã Hoằng Đức và thị trấn Bút Sơn, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Kết quả nghiên cứu làm nổi bật mâu thuẫn thực tiễn khi mức độ nhận thức (>98%) và thái độ tích cực (>60%) của người dân về bảo vệ môi trường đạt tỷ lệ cao, nhưng hành vi phân loại rác tại nguồn vẫn còn hạn chế với dưới 9% số hộ thực hiện. Các phát hiện và số liệu cụ thể trong khóa luận là nguồn tài liệu thực chứng có giá trị cho công tác quản trị môi trường địa phương và định hướng các nghiên cứu mở rộng trong lĩnh vực quản lý chất thải rắn nông thôn.