CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1 Sinh kế hộ gia đình 1.1 Định nghĩa sinh kế Có nhiều cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau về sinh kế. Theo DFID (1999), một sinh kế bao gồm năng lực tiềm tàng, tài sản (bao gồm cả nguồn lực vật chất cũng như xã hội) và các hoạt động khác làm phương tiện để sinh sống. Sinh kế bền vững Theo Chambers và Conway (1992) cho rằng “Một sinh kế được xem là bền vững khi nó có thể đối phó và vượt qua những căng thẳng, những cú sốc; duy trì hoặc tăng cường hơn nữa năng lực tiềm tàng và các nguồn tài sản ở hiện tại cũng như tương lai trong khi không làm phá hoại nguồn tài nguyên thiên nhiên” (Trích dẫn bởi DFID, 1999). Hơn nữa cũng theo Chambers và Conway (1992) sinh kế bền vững thúc đẩy sự hòa hợp giữa hiện tại và tương lai và mang lại những điều tốt đẹp cho các thế hệ mai sau (Trích dẫn bởi Dự án Imola, 2006) 1.
Khung phân tích sinh kế bền vững Khung phân tích sinh kế là một công cụ được xây dựng nhằm xem xét những yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến sinh kế của con người, đặc biệt là những yếu tố gây khó khăn hoặc tạo cơ hội trong sinh kế. Đồng thời, khung sinh kế cũng nhằm mục đích tìm hiểu xem những yếu tố này liên quan với nhau như thế nào trong những bối cảnh cụ thể. DFID đã đưa ra khung sinh kế bền vững với các thành phần như sau: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Khung sinh kế bền vững H: Nguồn nhân lực S: Nguồn lực xã hội N: Nguồn lực tự nhiên P: Nguồn vật chất F: Nguồn lực tài chính Kết quả thu Nguồn lực sinh kế Chính sách, cơ nhập quan, thủ tục Tình huống - Tăng thu dễ bị tổn nhập thương Cơ quan - Tăng phúc H - Các cấp lợi h - Các cú sốc chính Chiến - Giảm rủi ro - Các khuynh quyền lược - Cải thiện Ảnh hướng S N hưởng - Thành sinh an toàn - Tính thời vụ phần tư kế lương thực và các nhân - Sử dụng nguồn F tiếp cận bền vững P hơn các - Luật - Chính sách nguồn tài - Văn hóa nguyên thiên - Cơ quan nhiên Cách tiếp cận Nguồn: DFID, 1999.
Các thành phần của khung phân tích sinh kế gồm: - Khả năng dễ bị tổn thương: Khả năng dễ bị tổn thương là môi trường bên ngoài mà trong môi trường đó sinh kế con người và các tài sản sẵn có của họ bị ảnh hưởng cơ bản, vừa tích cực vừa tiêu cực, bởi những xu hướng, sự thay đổi đột ngột hoặc tính mùa vụ - mà họ hạn chế được hoặc không thể nào kiểm soát được. Các yếu tố trong hoàn cảnh dễ bị tổn thương TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 + Xu hướng: Xu hướng dân số, xu hướng tài nguyên kể cả xung đột trong việc sử dụng, xu hướng kinh tế trong nước và thế giới, những xu hướng cai trị (bao gồm chính sách, những xu hướng kỹ thuật) + Các cú sốc: thay đổi về sức khỏe con người, thay đổi tự nhiên, thay đổi kinh tế, xung đột, thay đổi về sức khỏe vật nuôi, cây trồng. + Tính thời vụ: biến động giá cả, sản xuất, sức khỏe, những cơ hội việc làm Những nhân tố cấu thành hoàn cảnh dễ bị tổn thương quan trọng vì chúng có tác động trực tiếp lên tình trạng tài sản và những lựa chọn của con người mà với chúng sẽ mở ra cơ hội để họ theo đuổi những kết quả sinh kế có lợi - Nguồn lực sinh kế Bao gồm: Nguồn nhân lực (H), nguồn lực xã hội (S), nguồn lực tự nhiên (N), nguồn lực vật chất (P) và nguồn lực tài chính (F). + Nguồn nhân lực Đây là nhân tố quan trọng nhất.
Nguồn lực con người thể hiện kĩ năng, kiến thức, năng lực để lao động và cùng với sức khỏe tốt giúp con người theo đuổi những chiến lược sinh kế khác nhau và đạt được mục tiêu sinh kế của mình. Ở mức hộ gia đình thì nguồn lực con người là yếu tố về số lượng và chất lượng lao động sẵn có; yếu tố này thay đổi tùy theo số lượng người trong hộ, kĩ năng lao động, khả năng lãnh đạo, tình trạng sức khỏe, v.v… Nguồn nhân lực được nâng cao bởi đầu tư trong giáo dục và huấn luyện cũng như được nâng cao bởi những kỹ năng được yêu cầu thông qua việc theo đuổi một hoặc nhiều nghề nghiệp + Nguồn lực xã hội Có nhiều tranh luận về định nghĩa nguồn lực xã hội nhưng theo DFID (1999), nguồn lực xã hội là các tiềm lực xã hội mà con người đưa ra để theo đuổi các mục tiêu sinh kế của mình. Các mục tiêu sinh kế này được phát triển thông qua các mạng lưới, các mối liên hệ liên kết với nhau, tính đoàn hội, hợp tác của các nhóm chính thức; và mối quan hệ được thực hiện dựa trên sự tin tưởng, sự trao đổi, và ảnh hưởng lẫn nhau. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 + Nguồn lực tự nhiên Nguồn lực tự nhiên là khái niệm dùng để chỉ về nguồn tài nguyên cung cấp các nguồn lực và dịch vụ có ích cho sinh kế.
Các yếu tố trong nguồn lực này rất đa dạng, bao gồm cả những hàng hóa vô hình như không khí, hệ sinh thái đến những tài sản hữu hình như đất, nước… + Nguồn lực vật chất Bao gồm cơ sở hạ tầng căn bản và các hàng hóa sản xuất cần thiết để hỗ trợ cho sinh kế người dân (cơ sở hạ tầng như là kênh rạch, đường sá, nhà ở, hệ thống cung cấp điện, nước, nhà vệ sinh, các phương tiện tiếp cận thông tin để đáp ứng nhu cầu cơ bản của con người, các phương tiện sản xuất như là công cụ, máy móc và các phương tiện khác giúp con người hoạt động với năng suất cao) Trong tài sản vật chất thì các nhân tố làm cho sinh kế của con người trở nên đa dạng hơn là cơ sở hạ tầng như đường sá, hệ thống cung cấp điện và nước. + Nguồn lực tài chính Đây là yếu tố trung gian cho sự trao đổi, có ý nghĩa quan trọng đối với việc sử dụng thành công hay không các tài sản khác. Nguồn tài chính chủ yếu là tiền mặt và các khoản tài chính tương đương mà con người sử dụng để đạt được mục tiêu sinh kế của mình. Có hai nguồn tài chính cơ bản, đó là nguồn vốn sẵn có và nguồn vốn vào thường xuyên.
Nguồn vốn sẵn có bao gồm tiết kiệm, tiền gửi ngân hàng, vật nuôi, khoản vay tín dụng,…Nguồn vốn vào thường xuyên gồm trợ cấp, các khoản tiền chuyển nhượng từ nhà nước hoặc các khoản tiền gửi. Chiến lược sinh kế Chiến lược sinh kế là các kế hoạch làm việc lâu dài của người dân để kiếm sống. Nó thể hiện mức độ đa dạng cũng như kết hợp nhiều hoạt động và lựa chọn mà con người tiến hành nhằm đạt được mục tiêu sinh kế của mình. Kết quả sinh kế Kết quả sinh kế là những thay đổi có lợi cho sinh kế của cộng đồng do các chiến lược sinh kế mang lại, cụ thể là thu nhập cao hơn, nhận được phúc lợi nhiều TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 hơn, giảm rủi ro, đảm bảo cao hơn mức an toàn thực phẩm và sử dụng một cách bền vững hơn nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Các yếu tố quyết định sự đa dạng của chiến lược sinh kế Theo Frank Ellis (2000) những lý do mà các cá nhân hoặc hộ gia đình theo đuổi chiến lược sinh kế đa dạng thường được phân chia thành hai yếu tố đó là sự cần thiết hoặc sự lựa chọn. Sự cần thiết phải đa dạng hóa thường đề cập đến lý do thường là những lý do không tự nguyện, miễn cưỡng, ví dụ như hộ gia đình bị tước quyền sử dụng đất, phân chia nhỏ đất đai để thừa kế, môi trường suy thoái dẫn đến giảm năng suất vụ mùa, thiên tai như lũ lụt, hạn hán hoặc chiến tranh làm hư hỏng, mất mác tài sản của hộ gia đình, mất khả năng tiếp tục thực hiện các hoạt động sản xuất nông nghiệp do tai nạn hoặc bệnh tật. Vì vậy hộ cần thiết đa dạng hóa để sinh sống. Trong khi đó sự lựa chọn đề cập về những lý do tự nguyện và chủ động ví dụ tìm kiếm cơ hội để kiếm tiền lương theo mùa vụ, tìm việc ở địa phương khác, tiết kiệm tiền để đầu tư cho hoạt động phi nông nghiệp,… Hộ gia đình nông thôn có nhiều hoạt động để tạo ra các nguồn thu nhập do phân bổ đa dạng các tài sản tự nhiên, vật chất và con người.
Hơn nữa hộ gia đình có thể muốn đa dạng hóa trong chiến lược sinh kế để đối phó với một cú sốc bất ngờ, hoặc để giảm thiểu nguy cơ rủi ro bằng cách tham gia vào các hoạt động tạo ra lợi nhuận khác nhau. Các giả định trong nghiên cứu là các hộ lựa chọn các mô hình đa dạng hóa để đạt được các tiêu chuẩn sống tốt nhất. Theo Frank Ellis (1998), sự kết hợp lựa chọn các tài sản và các hoạt động này thường được gọi là "chiến lược sinh kế” của hộ gia đình. Một chiến lược sinh kế không chỉ bao gồm các hoạt động tạo ra thu nhập mà còn bao gồm các loại lựa chọn khác nhau, bao gồm cả sự lựa chọn văn hóa và xã hội, kết hợp với nhau để tạo nên nghề nghiệp chính của một hộ gia đình (Trích dẫn bởi Nguyễn Thị Liên, 2009) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Các mô hình trong chiến lược sinh kế của hộ Mức độ đa dạng được đo bằng số lượng các nguồn thu nhập và tỷ lệ của chúng trong tổng thu nhập. Frank Ellis (2004) khảo sát sinh kế đa dạng như là một chiến lược sống còn của các hộ gia đình nông thôn ở các nước đang phát triển (trích dẫn bởi Võ Ngàn Thơ, 2006) Khu vực ngoại thành cũng được đặc trưng bởi sự đa dạng và lý thuyết đa dạng hoá. Có ba mối quan hệ cơ bản giữa hiệu suất nông nghiệp và sinh kế đa dạng để phân tích về sự đa dạng hóa. Thứ nhất, các tổ chức ở khu vực nông thôn bao gồm các hoạt động nông nghiệp và những hoạt động kinh tế phi nông nghiệp hay còn gọi là mối liên kết giữa sản xuất nông nghiệp và các ngành khác.
Thứ hai hộ gia đình có chiến lược phân bổ lao động và các nguồn lực khác để tạo ra thu nhập phi nông nghiệp. Thứ ba, đa dạng nông nghiệp có thể giúp giảm rủi ro và tính dễ bị tổn thương theo mùa, nâng cao thu nhập hộ.