Chương 6 PHÂN TÍCH KỸ THUẬT Từ ngữ phân tích kỹ thuật trong lĩnh vực thị trường chứng khoán có một nghĩa hoàn toàn khác với ngôn ngữ thông dụng. Phân tích kỹ thuật là nghiên cứu các hành động (hành vi) của bản thân thị trường, khác với việc phân tích hàng hoá trên thị trường. Phân tích kỹ thuật là khoa học ghi chép biểu đồ dưới dạng đồ thị các giao dịch cổ phiếu hoặc nhóm cổ phiếu trong quá khứ và từ đó vẽ ra được bức tranh về xu thế trong tương lai. Đổ thị là công cụ của nhà phân tích kỹ thuật.
Đồ thị có thể biểu thị bất kỳ sự việc gì xẩy ra trên thị trường hoặc các chỉ số tách ra từ các đại lượng đó. Đồ thị có thể theo đơn vị tháng, đơn vị tuần, ngày, giờ. Đồ thị có thể biểu thị đại lượng tỷ lệ giữa doanh thu trên giá chứng khoán, đại lượng giá trung bình của các cổ phiếu được mua bán nhiều nhất,. Nói cách khác là các chỉ số được tính ra từ các đại lượng thống kê về các giao dịch trên sở giao dịch chứng khoán.
Trên đồ thị người ta tìm ra quy luật về các tín hiệu báo trước về sự thay đổi của xu thế giá. Phần tích cơ bản tập trung vào xu hướng kinh tế nói chung, tình hình kinh doanh hiện tại của một ngành công nghiệp hoặc chất lượng cổ phiếu của một công ty cụ thể. Ngược lại, phân tích kỹ thuật lại quan tâm đến việc dự báo ngắn hạn về xu hướng thị trường và giá cả chứng khoán hơn là tập trung nghiên cứu một công ty nào đó. Đối với một nhà phân tích kỹ thuật, quyết định mua hoặc bán chứng khoán dựa trên hoạt động của thị trường và sự thay đổi xu hướng thị trường.
195 Các nhà phân tích thị trường chứng khoán sử dụng đồng thời cả hai phương pháp phân tích cơ bản và kỹ thuật để đưa ra quyết định đầu tư. Họ dùng phương pháp phân tích cơ bản để xác định loại giao dịch nào nên thực hiện và dùng phương pháp phân tích kỹ thuật để chọn thời điểm m ua bán thích hợp nhất.1 CÁC CHỈ BÁO VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA THỊ TRUỒNG CHÚNG KHOÁN 6.1 Các chỉ số giá và bình quân động của giá chứng khoán Giá cả các loại chứng khoán có xu hướng biến động đồng loạt. Bất cứ một loại chứng khoán nào đều có khuynh hướng tăng giá khi thị trường lên và giảm giá khi thị trường giảm. Tất nhiên, cũng có những nhân tố khác làm cho giá cả chứng khoán biến động ngược chiều với xu hướng của thị trường.
Các chỉ số và bình quân động có vai trò quan trọng trong phân tích kỹ thuật vì chúng thể hiện xu hướng biến động của giá cả chứng khoán.1 Chỉ sô' giá chứng khoán Chỉ số giá chứng khoán là chỉ số phản ánh sự biến đổi của giá chứng khoán tại một thời điểm so với thời điểm gốc nào đó. So sánh giá trị chỉ số giữa hai thời điểm khác nhau ta được sự biến động giá giữa hai thời điểm đó. Để có tầm nhìn tổng quan về sự biến động của giá chứng khoán trên thị trường, người ta sử dụng chỉ số giá cổ phiếu là loại thông tin quan trọng nhất của thị trường và thường được dùng trong phân tích và đầu tư chứng khoán. 196 Chỉ số giá cổ phiếu là thông tin thể hiện giá cổ phiếu bình quân hiện tại so vói giá cổ phiếu bình quân thời kỳ gốc đã chọn.
Tất cả các thị trường chứng khoán đều xây dựng hệ thống chỉ số giá cổ phiếu cho riêng mình. Chỉ số giá cổ phiếu có thể được tính cho từng cổ phiếu, tất cả cổ phiếu thuộc thị trường của một quốc gia, từng ngành, nhóm ngành. Ngoài ra, một số chỉ tiêu sau cũng được thống kê, tổng hợp đối với chỉ số giá cổ phiếu và thông báo rộng rãi như : Chỉ số giá cổ phiếu trong ngày, ngày đó so với ngày trước hay so với đầu năm, chỉ số cao nhất hoặc thấp nhất tròng năm, .1 Chỉ s ố giá bình quân giản đơn Đây là chỉ số bình quân số học giản đơn, không có sự tham gia của quyền số. Công thức tính như sau : ± Pit I = ±±------ ± P io i=I Trong đó: I : Chỉ số giá cổ phiếu bình quân P it: Giá cổ phiếu i thời kỳ t Pio : Giá cổ phiếu i thời kỳ gốc Chỉ số giá bình quân giản đơn có đặc điểm là cổ phiếu có giá trị càng cao thì càng có ảnh hưởnglớn đến sô' bình quân.
Sự tăng giá 1% của cổ phiếu có trị giá cao thì ảnhhưởng nhiều 197 hơn so với sự thay đổi giá 1% của cổ phiếu có trị giá thấp. Mức bình quân không phản ánh giá bình quân vì hộ số chia thay đổi liên tục. Chỉ số này chỉ phản ánh đúng khi độ lệch chuẩn nhỏ. Các chỉ số Dow Jones; Nikkei 225; Chỉ số tổng hợp MIB (Italy) áp dụng loại chỉ số này.2 C hỉ s ố giá bình quân gia quyền giá trị Đặc điểm của loại chỉ số giá này là các công ty lớn có tác động lớn.
Nếu cùng khối lượng niêm yết, công ty có cổ phiếu thị giá cao hơn sẽ có tác động nhiều hơn. Những cổ phiếu giao dịch ít vẫn có ảnh hưởng, không phản ánh được thực sự thị trường. Chỉ số bình quân gia quyền giá trị là chỉ số giá cổ phiếu bình quân gia quyền với quyền số là số lượng cổ phiếu niêm yết. Loại chỉ số này bao gồm chỉ số giá Laspeyres và chi số giá Paascher.
+ C hỉ s ố giá Paascher Đây là loại chỉ số giá cổ phiếu thông dụng nhất, nhiều nước áp dụng nhất như các chỉ số KOSPI (Hàn Quốc); s& P500 (Mỹ); FT-SE100 (Anh); TOPIX (Nhật); TSE (Đài Loan); HANGSENG (Hồng Công);. Q uyền số của chỉ số giá này là số lượng cổ phiếu niêm yết thời kỳ tính toán và được tính theo công thức : Ỵ uqit.Pio 198 Trong đó: Ip : chỉ số giá cổ phiếu bình quân Paascher Pit: giá cổ phiếu i thời kỳ báo cáo (t) Pio: giá cổ phiếu i thời kỳ gốc (o) qit: Khối lượng cổ phiếu i niêm yết thời kỳ báo cáơ (t) Chỉ số này lấy quyền số là số lượng cổ phiếu niêm yết thời kỳ báo cáo nên nó là tư liệu và sẽ phản ánh được vai trò của các cổ phiếu niêm yết tại thời kỳ tính toán. Tuy nhiên,' chỉ số này có nhược điểm quan trọng nhất là phải thường xuyên cập nhật số liệu về cổ phiếu niêm yết thời kỳ báo cáo. + Chỉ số giá Laspeyres Đây là chỉ số giá cổ phiếu áp dụng phương phápbìnhquân gia quyền với quyền số là số lượnỊ> cổ phiếu niêm yếtthời kỳ gốc.
Công thức tính như sau: ị^qio.pio i=l Trong đó: IL: Chỉ số giá cổ phiếu bình quân Laspeyres pit: giá cổ phiếu i thời kỳ báo cáo pio: giá cổ phiếu i thời kỳ gốc qio: Khối lượng cổ phiếu i niêm yết thời kỳ gốc 199 Chỉ số này lấy quyền số là số cổ phiếu niêm yết thời kỳ gốc nên số liệu này đã có, không phải cập nhật. Tuy nhiên nhược điểm của nó là không phản ánh được cơ cấu biến đổi của thị trường. Các chỉ số FAZ, DAX của Đức áp dụng loại chỉ số này.3 C h ỉ sô'bình quân nhân Chỉ số bình quân nhân là chỉ số giá bình quân nhân giữa chỉ số giá Paascher và chỉ sô giá Laspeyres và được xác định theo công thức : IF= I px l L Trong đó: IF: chỉ số giá Fisher Ip: Chỉ số giá Paascher IL: chỉ số giá bình quân Laspeyres Chỉ số này có ưu điểm phần nào khắc phục được nhược điểm của chỉ số Paascher và Laspeyres m ắc phải. Các chỉ số Value line (M ỹ); FT-30 (Anh) áp dụng loại chỉ số này.
M ột số chỉ số giá được xác lập nhằm phản ánh toàn bộ thị trường, đây là các chỉ số giá có cơ sở rộng. M ột số chi số giá khác có cơ sở hẹp, chỉ là thước đo cho m ột mảng thị trường hoặc cho m ột ngành nhất định. Chỉ số bình quân Dow Jones là đại lượng lâu đời và thông dụng nhất dùng để đo lường sự biến động giá cả cổ phiếu và được tính toán dựa trên một số loại cổ phiếu tiêu biểu trong các ngành lĩnh vực sau : 200 + Bình quân ngành công nghiệp (30 loại cổ phiếu) + Bình quân ngành vận tải (20 loại cổ phiếu) + Bình quân ngành dịch vụ công ích (15 loại cổ phiếu) + Bình quân tổng hợp (65 loại cổ phiếu thuộc 3 nhóm trên). Cho đến nay chỉ số bình quân ngành công nghiệp (DJIA) vẫn là một chỉ báo được sử dụng rộng rãi nhất.
Khi nói về xu hướng chung của thị trường, các nhà phân tích và đầu tư thường dùng chỉ số bình quân ngành công nghiệp. Chỉ số bình quân Dow Jones có trọng số là giá cả chứng khoán. Chỉ số s& p 500 lấy cơ sở là giá cả của 400 loại cổ phiếu ngành công nghiệp; 20 cổ phiếu ngành vận tải; 40 cổ phiếu ngành tài chính và 40 cổ phiếu ngành dịch vụ công ích. Các lĩnh vực đều được dự báo riêng biệt.
Chỉ số s & p 500 có hai lợi thế so với chỉ số bình quân Dow Jones là hộ thống trọng số và phạm vi đại diện rộng hơn. Mỗi loại cổ phiếu được tính trọng số theo tổng giá trị của cổ phiếu đang lưu hành, làm cho chỉ số s & p 500 có tính chọn lọc hơn chỉ số Dow Jones. Phạm vi đại diện của nó cũng rộng hơn: 500 loại cổ phiếu được chọn đại diện cho 75% - 80% tổng giá trị của các loại cổ phiếu giao dịch tại NYSE. Chỉ số tổng hợp NYSE dựa trên giá cả của tất cả các loại cổ phiếu thường được niêm yết trên sở giao dịch.
Giống như chỉ số s & P500. Chỉ số tổng hợp NYSE lấy trọng số là tổng giá trị của toàn bộ cổ phiếu đang lưu hành của mỗi loại cổ phiếu. Tương tự chỉ số bình quân Dow Jones và chỉ số s & P500 các loại cổ phiếu thuộc ngành công nghiệp là bộ phận 201 quan trọng nhất của chỉ số tổng hợp NYSE. Chỉ số này được tính toán và công bố mỗi ngày.
Chỉ số mức giá trị tổng hợp bao gồm 1700 loại cổ phiếu giao dịch trên NYSE, A M EX và OTC. N goài ra, đường giá trị còn cung cấp dịch vụ tư vấn về đầu tư như thời điểm và độ an toàn của hàng trăm loại cổ phiếu khác nhau. N ó dự kiến loại cổ phiếu có giá cả tương đối tốt nhất hoặc mức tệ nhất trong vòng 12 tháng tiếp theo. Chỉ số W ilshire 5000 là đại lượng đánh giá thị trường tổng quát nhất.