mở đầu cho thanh toán không dùng tiền mặt, tạo sự nhanh chóng, chính xác, tiết kiệm chi phí, rút ngắn thời gian kinh doanh, nâng cao thu nhập cho khách hàng. Hoạt động huy động vốn Ngân hàng thương mại hoạt động và phát triển được chủ yếu nhờ vào lượng tiền mà nó huy động được từ nền kinh tế. Trong bối cảnh cạnh tranh quyết liệt trong cái lĩnh vực tài chính tiền tệ như hiện nay, để có được nguồn vốn lớn đòi hỏi các Ngân hàng thương mại phải có những chính sách huy động hợp lý, nhằm từ đó thu hút được lượng vốn cần thiết trong nền kinh tế để phục vụ cho hoạt động của Ngân hàng thương mại. Có thể dễ dàng nhận thấy chính sách huy động vốn của Ngân hàng thương mại cũng là một phần trong chính sách Marketing mà các ngân hàng đang sử dụng, tuy nhiên thì nó luôn được quan tâm và chịu sự giám sát chỉ đạo sát sao từ phía lãnh đạo Ngân hàng.
Các hoạt động khác Ngoài các dịch vụ trên, NHTM còn cung cấp các dịch vụ khác để phân tán rủi ro và cạnh tranh với các tổ chức khác như -Mua bán ngoại tệ -Bảo quản vật có giá -Bảo lãnh -Cho thuê thiết bị trung và dài hạn -Cung cấp các dịch vụ ủy thác và tư vấn -Mô giới đầu tư chứng khoáng -Dịch vụ bảo hiểm -Ngân hàng đại lý 8 1. Những vấn đề cơ bản về tín dụng ngân hàng 1. Khái niệm về tín dụng ngân hàng Tín dụng ngân hàng là mối quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, tổ chức tín dụng (TCTD) với cá nhân, tổ chức có nhu cầu vay tiền. Khi đó, bên cho vay sẽ chuyển giao tài sản cho bên vay trong một khoảng thời gian theo thoả thuận được cam kết trong hợp đồng.
Các cá nhân, doanh nghiệp vay cần cần thanh toán đủ gốc, lãi khi đến thời hạn. Tại các Ngân hàng hiện nay, tín dụng sẽ được chia ra làm 2 mảng chính: * Tín dụng cá nhân: Đáp ứng nhu cầu cải thiện chất lượng đời sống như kinh doanh, tiêu dùng, mua sắm, đàu tư bất động sản,vay mua nhà, mua ôtô, du học,… * Tín dụng doanh nghiệp: Phục vụ các khách hàng doanh nghiệp, đáp ứng các nhu cầu cần vốn để sản xuất kinh doanh như mua sắm máy móc, thanh toán công nợ, bổ sung vốn lưu động, đầu tư trang thiết bị, dây truyền sản xuất,… 1. Các hình thức tín dụng Ngân hàng Nhằm phục vụ và đáp ứng tốt nhu cầu tín dụng của mỗi khách hàng, ngân hàng cung cấp rất nhiều loại cho vay cho nhiều đối tượng khách hàng với những mục đích sử dụng khác nhau. Có một số tiêu thức phân loại chính như sau: Phân loại tín dụng theo thời gian * Cho vay ngắn hạn: Là loại cho vay có kỳ hạn dưới 1 năm và được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân.
Khoản cho vay ngắn hạn chủ yếu tài trợ cho các hoạt động sau: - Cho vay mua hàng dự trữ. + Tiền mặt được chi dùng mua dự trữ nguyên vật liệu và bán thành phẩm hoặc thành phẩm. 9 + Hàng hóa được sản xuất hoặc dự trữ để bán. + Tiền mặt thu về (ngay khi bán hàng hoặc thu từ các khoản bán chịu) và được dùng để trả các khoản vay ngân hàng.
- Cho vay vốn lưu động. - Cho vay ngắn hạn các công trình xây dựng. - Cho vay kinh doanh chứng khoán. - Cho vay kinh doanh bán lẻ.
- Cho vay trên tài sản. * Cho vay trung hạn: Là loại cho vay có thời hạn từ 1 đến 5 năm, loại tín dụng chủ yếu được sử dụng để đâu tư mua sắm tài sản cố dịnh, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dụng các dự án mới co quy mô nhỏ và có thời gian thu hồi vốn nhanh. * Cho vay dài hạn: Là loại cho vay có thời hạn từ 5 năm trở lên, loại cho vay này chủ yếu để đáp ứng nhu cầu dài hạn như: Xây dựng nhà ở, các thiết bị phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới. Loại cho vay này tà trợ cho các loại: - Cho vay kỳ hạn mua thiết bị và các tài sản cố định khác.
- Cho vay luôn chuyển. - Cho vay theo dự án. - Cho vay tài trợ hoạt động mua lại công ty. Phân loại tín dụng theo mục đích tín dụng.
- Tín dụng phục vụ sản xuất lưu thông hàng hóa: Là loại tín dụng được cung cấp cho các nhà sản xuất và kinh doanh hàng hóa để đáp ứng nhu cầu về vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh để dự trữ nguyên vật liệu, cho vay chi phí sản xuất hoặc đáp ứng nhu cầu thiếu vốn trong quan hệ thanh toán giữa các doanh nghiệp. 10 - Cho vay bất động sản: Là loại cho vay để đầu tư vào bất động sản như mua đất đai, nhà cửa, hoặc xây dựng, mở rộng đất đai. - Tín dụng tiêu dùng: Là loại cho vay để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của cá nhân, hộ gia đình như mua chịu hàng hóa, xây dựng nhà ở hoặc các phương tiện cần thiết khác. Phân loại theo đặc điểm luân chuyển vốn.
- Tín dụng vốn lưu động: Là loại tín dụng được cung cấp để bổ sung vốn lưu động cho các tổ chức kinh tế. - Tín dụng vốn cố định: Là loại tín dụng được cung cấp để hình thành nên tài sản cố định cho các tổ chức kinh tế. Phân loại theo đảm bảo. - Tín dụng không có đảm bảo: Là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của người khác mà chỉ dựa vào uy tín của khách hàng vay vốn để quyết định.
Tín dụng không cần đảm bảo có thể được cấp cho các khách hàng có uy tín, thường là khách hàng làm ăn thường xuyên có lãi, tình hình tài chính vững mạnh, ít xảy ra tình trạng nợ nần dây dưa, hoặc món vay tương đối nhỏ so với vốn của người vay. Các khoản cho vay theo chỉ thị của Chính phủ mà Chính phủ yêu cầu không cần tài sản đảm bảo. - Tín dụng có đảm bảo bằng tài sản: Là loại tín dụng mà theo đó ngân hàng cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm cho tiền vay như thế chấp, cầm cố, hoặc bảo lãnh của một bên thứ ba nào khác. Tín dụng dựa trên cam kết đảm bảo yêu cầu ngân hàng và khách hàng phải ký hợp đồng đảm bảo.
Phân loại theo phương thức cho vay. - Cho vay theo món: Là hình thức cấp tín dụng của ngân hàng mà theo đó khách hàng sẽ phải làm hồ sơ cho vay vốn từng lần vay với lãi suất, thời hạn trả tiền và số tiền vay xác định. - Cho vay theo hạn mức tín dụng: Là hình thức cấp tín dụng của ngân hàng mà theo đó khách hàng chỉ cần lập một bộ hồ sơ cho nhiều khoản vay. Ngân hàng cấp cho khách hàng một hạn mức, chỉ giới hạn dư nợ mà không 11 giới hạn doanh số.
Phân loại theo phương thức hoàn trả nợ vay. - Cho vay chỉ có một kỳ hạn còn gọi là cho vay trả nợ một lần khi đáo hạn: Là loại cho vay mà khách hàng chỉ hoàn trả vốn gốc và lãi vay một lần khi đến hạn. Loại cho vay này thường áp dụng cho những khoản vay nhỏ và có thời hạn ngắn. - Cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là vay trả góp: Là loại cho vay mà khách hàng phải hoàn trả vốn gốc và lãi vay định kỳ thành những khoản bằng nhau.
Loại cho vay này áp dụng cho những khoản vay lớn có kỳ hạn dài. - Cho vay trả nợ nhiều lần nhưng không có kỳ hạn trả nợ cụ thể mà tùy khả năng tài chính của mình người đi vay có thể trả nợ bất cứ lúc nào hay còn gọi là cho vay hoàn trả theo yêu cầu: Là loại cho vay mà khách hàng có thể hoàn trả nợ vay bất cứ lúc nào. Phân loại theo hình thức. - Chiết khấu thương phiếu: Là việc Ngân hàng ứng trước tiền cho khách hàng tương ứng với giá trị của thương phiếu trừ đi phần thu nhập của Ngân hàng để sở hữu một thương phiếu chưa đến hạn (hoặc một giấy nợ).
- Cho vay: Là việc ngân hàng đư tiền cho khách hàng với cam kết khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoang thời gian xác định. - Bảo lãnh: Là việc ngân hàng cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính hộ khách hàng của mình. Mặc dù không phải xuất tiền ra, song ngân hàng đã cho khách hàng sử dụng uy tín của mình để thu lợi. - Cho thuê: Là việc ngân hàng bỏ tiền ra mua tài sản để cho khách hàng thuê theo những thỏa thuận nhất định.
Sau thời gian nhất định, khách hàng phải trả cả gốc lẫn lãi cho ngân hàng. Vai trò của tín dụng ngân hàng - Đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế là người trung gian điều hoà quan hệ cung cầu về vốn trong nền kinh tế, hoạt động tín dụng đã thông dòng cho vốn chảy từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn. 12 - Tín dụng ngân hàng thúc đẩy việc sử dụng vốn có hiệu quả và củng cố chế độ hoạch toán kinh tế. - Tín dụng ngân hàng tạo ra nguồn vốn hỗ trợ cho quá trình sản xuất được thực hiện bình thường liên tục và phát triển nhằm góp phần đẩy nhanh quá trình tái ẩn xuất mở rộng, đầu tư phát triển kinh tế, mở rộng phạm vi quy mô sản xuất.
- Tín dụng Ngân hàng tạo điều kiện mở rộng và phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại. - Nguồn vốn bằng tiền đáp ứng được nhu cầu của nhiều đối tượng vay. - Tín dụng là công cụ tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển và ngành mũi nhọn - Thúc đẩy quá trình tập trung vốn và tập trung sản xuất - Góp phần tác động đến việc tăng cường chế độ hạch toán kinh tế của các doanh nghiệp 1. Rủi ro trong hoạt động tín dụng ngân hàng Rủi ro tín dụng là rủi ro do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng hoặc thỏa thuận với ngân hàng.
Rủi ro trong hoạt động cho vay của Ngân hàng hoặc trên thị trường tài chính. Luôn là người cho vay phải chịu rủi ro khi chấp nhận một hợp đồng cho vay tín dụng. Bất kỳ một hợp đồng cho vay nào cũng có rủi ro tín dụng.