CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 1. Khái niệm và các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài 1. Khái niệm và bản chất của đầu tư trực tiếp nước ngoài Theo nghĩa hẹp, đầu tư là hoạt động sử dụng tiền vốn, tài nguyên và lao động để sản xuất kinh doanh trong một thời gian tương đối dài nhằm thu về lợi nhuận và lợi ích kinh tế – xã hội. Theo nghĩa rộng, đầu tư là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai với mong muốn là lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra.
Theo luật đầu tư năm 2006 của Việt Nam, đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của luật đầu tư và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Hiện nay, tại Lào có nhiều quan điểm khác nhau về đầu tư như sau: Theo Phonexay VILAYSACK “Đầu tư là của cải mà có thể buôn bán được, hy vọng rằng nó tạo ra thu nhập hay tăng thêm giá trị trong tương lai. Trong sự nhận thức về mặt kinh tế, đầu tư là việc buôn bán sản phẩm mà không sử dụng trong ngay hôm nay nhưng nó sẽ được sử dụng trong tương lai để tạo ra sự giàu có. Về mặt tài chính, đầu tư là của cải tiền tệ buôn bán với ý của cải của nó sẽ thu lợi nhuận hoặc tăng thêm giá trị trong tương lai và có thể bán với giá cao hơn [27; tr 17 ] Theo Souliya POUANGPADITH thì “ Đầu tư là khái niệm chỉ việc bỏ nhân lực, tài lực, vật lực vào một công việc gì đó dựa trên cơ sở tính toán hiệu quả kinh tế - xã hội.
Đầu tư bao giờ cũng có chủ thể xác định, đối tượng, mục đích và cách thức thực hiện xác định” [27, tr 9] 7 Dưới góc độ kinh tế, đầu tư được hiểu là khâu đầu tiên trong quá trình sản xuất kinh doanh của chủ thể đầu tư. Đầu tư cũng được hiểu là toàn bộ các chí phí được bỏ ra trước khi thu lợi nhuận ròng. Đầu tư có thể được coi là quá trình lâu dài bao gồm nhiều khâu, nhiều bước. Xét trên góc độ quốc gia, nguồn vốn đầu tư được chia làm 2 loại là nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư nước ngoài.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một loại hình của đầu tư quốc tế, trong đó người chủ sở hữu vốn đồng thời là người trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động sử dụng vốn. Nói cách khác, đây là hình thức đầu tư trong đó người bỏ vốn đầu tư và người sử dụng vốn là một chủ thể. Các doanh nghiệp, cá nhân nước ngoài (các chủ đầu tư) trực tiếp tham gia vào quá trình quản lý, sử dụng vốn đầu tư và vận hành các kết quả đầu tư nhằm thu hồi vốn đã bỏ ra và thu lợi nhuận. Về bản chất, FDI là việc sử dụng đầu tư của các tổ chức kinh tế, các công ty, cá nhân nước ngoài nhằm xây dựng các cơ sở, chi nhánh ở nước ngoài và làm chủ toàn bộ hay từng phần cơ sở đó.
Đây là loại hình đầu tư, trong đó, chủ đầu tư nước ngoài tham gia đóng góp một số vốn đủ lớn vào việc sản xuất hoặc cung cấp dịch vụ và cho phép họ trực tiếp tham gia quản lý, điều hành đối tượng đầu tư. Phân loại đầu tư Có nhiều cách phân loại đầu tư khác nhau, tùy vào cách tiếp cận ở các góc độ khác nhau. Thứ nhất, nếu căn cứ dưới góc độ sở hữu và quản lý người ta chia đầu tư ra làm các loại sau: - Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư. Nói cách khác, đây là hình thức đầu tư mà người bỏ vốn và quản lý vốn là một chủ thể.
Đầu tư trực tiếp có thể là đầu tư trong nước, hoặc đầu tư nước ngoài tại Việt Nam theo Luật đầu tư của Việt Nam. 8 - Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư. Nói cách khác, đây là hình thức đầu tư mà người bỏ vốn và người sử dụng vốn không phải là một chủ thể. Thứ hai, nếu căn cứ vào phạm vi đầu tư, người ta chia ra các loại đầu tư sau: - Đầu tư trong nước là việc nhà đầu tư trong nước bỏ vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành các hoạt động đầu tư tại Việt Nam.
- Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành các hoạt động đầu tư. - Đầu tư ra nước ngoài là việc nhà đầu tư đưa vốn bằng tiền và tài sản hợp pháp khác từ Việt Nam ra nước ngoài để tiến hành các hoạt động đầu tư. Theo Điều 3 của Luật đầu tư của Việt Nam có hiệu lực từ ngày 01/07/2006 quy định: Nhà đầu tư là tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật Việt Nam, bao gồm: - Doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế thành lập theo luật doanh nghiệp; - Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thành lập theo Luật hợp tác xã; - Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập trước khi Luật này có hiệu lực; - Hộ kinh doanh, cá nhân; - Tổ chức, cá nhân người nước ngoài; người Việt Nam định cư ở nước ngoài; người nước ngoài thường trú ở Việt Nam; - Các tổ chức khác theo quy định của pháp luật Việt Nam. 9 Theo Điều 2 của Nghị định số 108/2006/ND0 –CP ngày 22/09/2006 của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư quy định: - Vốn đầu tư là đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi và các tài sản hợp pháp khác để thực hiện các hoạt động đầu tư.
- Tài sản hợp pháp gồm: + Cổ phần, cổ phiếu hoặc các giấy tờ có giá khác của nhà đầu tư; + Trái phiếu, khoản nợ và các hình thức vay nợ khác; + Các quyền theo hợp đồng, bao gồm hợp đồng chìa khóa trao tay, hợp đồng xây dựng, hợp đồng quản lý, hợp đồng phân chia sản phẩm hoặc doanh thu; + Các quyền đòi nợ và quyền có giá trị kinh tế theo hợp đồng; + Công nghệ và quyền sở hữu trí tuệ, bao gồm nhãn hiệu thương mại, kiểu dáng công nghệp, sáng chế, tên thương mại, nguồn gốc hoặc tên gọi xuất xứ; + Các quyền chuyển nhượng, bao gồm các quyền đối với thăm dò và khai thác tài nguyên; + Bất động sản, quyền đối với bất động sản, bao gồm quyền cho thuê, chuyển nhượng, góp vốn, thế chấp hoặc bảo lãnh; + Các khoản lợi tức phát sinh từ hoạt động đầu tư, bao gồm lợi nhuận, lãi cổ phần, cổ tức, tiền bản quyền và các loại phí; + Các tài sản và quyền có giá trị kinh tế khác theo quy định của pháp luật và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Thứ ba, nếu căn cứ vào bản chất và phạm vi lợi ích do đầu tư đem lại, người ta có thể chia làm các loại đầu tư sau: 10 - Đầu tư tài chính là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra cho vay hoặc mua các chứng chỉ có giá để hưởng lãi suất định trước hoặc lãi suất tuỳ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh của công ty phát hành. Đầu tư tài sản tài chính không tạo ra tài sản mới trong nền kinh tế ( nếu không xét đến quan hệ quốc tế trong lĩnh vực này) mà chỉ làm tăng hoặc giảm giá trị tài sản tài chính của tổ chức, cá nhân đầu tư. - Đầu tư thương mại là loại đầu tư mà người có tiền bỏ tiền ra để mua hàng hóa và sau đó bán lại với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận do chênh lệch giá khi mua và giá khi bán.
Loại đầu tư này không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế ( nếu không xét tới ngoại thương) mà chỉ làm tăng tài sản tài chính cho người đầu tư. Tuy nhiên, đầu tư thương mại có tác dụng thúc đẩy quá trình lưu thông của cải vật chất do đầu tư phát triển tạo ra, từ đó thúc đẩy đầu tư phát triển, tăng thu cho ngân sách. - Đầu tư phát triển là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra để tiến hành các hoạt động nhằm tạo ra của cải mới cho nền kinh tế, làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh và mọi hoạt động xã hội khác, là điều kiện chủ yếu để tạo việc làm, nâng cao đời sống của người dân. Đó là việc bỏ tiền ra để xây dựng , sửa chữa nhà cửa và kết cấu hạ tầng, mua sắm trang thiết bị, máy móc và bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện các chi phí thường xuyên gắn liền với sự hoạt động của các tài sản này.
Như vậy, giữa đầu tư phát triển với đầu tư tài chính và đầu tư thương mại có các điểm khác nhau thể hiện: Đầu tư phát triển là loại đầu tư đem lại các kết quả không chỉ người đầu tư mà cả nền kinh tế xã hội được hưởng thụ, không chỉ trực tiếp làm tăng tài sản của chủ đầu tư mà cả của nền kinh tế. Đầu tư tài chính và đầu tư thương mại là các loại đầu tư chỉ trực tiếp làm tăng tài sản chính của người đầu tư, tác động gián tiếp đến làm tăng tài sản của nền kinh tế. Tuy nhiên, giữa đầu tư phát triển, đầu tư tài chính, đầu tư thương mại có quan hệ tương hỗ nhau. Đầu tư phát triển tạo tiền đề để tăng tích luỹ, phát triển hoạt động 11 đầu tư tài chính và đầu tư thương mại.
Ngược lại, đầu tư tài chính và đầu tư thương mại lại hỗ trợ, tạo điều kiện để tăng cường đầu tư phát triển. Phân loại đầu tư trực tiếp nước ngoài 1.