CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh tế 1.1 Khái niệm và quan điểm chung về hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh tế (HQKT) là một phạm trù kinh tế chung nhất liên quan trực tiếp với nền sản xuất hàng hoá và với tất cả các phạm trù và quy luật kinh tế khác. HQKT là mối quan tâm hàng đầu của các nhà kinh tế, bởi xác định đúng HQKT là một trong những căn cứ quan trọng để lựa chọn chiến lược sản xuất, chiến lược phát triển cây trồng. Thông qua HQKT ta mới thấy rõ thực chất kết quả của hoạt động sản xuất. HQKT của sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa lợi ích và chi phí, có nghĩa là càng tăng một đơn vị hữu ích trên một đơn vị chi phí càng có hiệu quả [5].
HQKT là một trong những thước đo phản ánh trình độ tổ chức quản lý sản xuất, mức độ sử dụng có hiệu quả tài nguyên khan hiếm vào mục đích sản xuất và phục vụ lợi ích con người, mặt khác HQKT còn phản ánh sự tồn tại và phát triển của xã hội nói chung và từng doanh nghiệp nói riêng. Với ý nghĩa đó khi đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của từng ngành, từng doanh nghiệp và từng thành phần kinh tế khác nhau không chỉ xem xét đánh giá một chiều về số lượng sản phẩm sản xuất ra mà còn phải đánh giá chất lượng của hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua các chỉ tiêu HQKT. Nâng cao HQKT là sự đòi hỏi mang tính tất yếu khách quan của hầu hết các phương thức sản xuất xã hội. Xuất phát từ thực tiễn của sản xuất, của đời sống xã hội đã xuất hiện phạm trù về HQKT.
Từ năm 1878, Sapodonicop và nhiều nhà kinh tế, nhà khoa học đã tổ chức tranh luận về vấn đề HQKT, song cho đến năm 1910 mới có văn bản Luan van 6 pháp quy đánh giá HQKT của vốn đầu tư cơ bản [3]. Từ đó đến nay khái niệm này đã và đang được quan tâm nghiên cứu và là một bộ phận quan trọng của kinh tế học trong nền kinh tế thị trường. Bàn về khái niệm HQKT, các nhà kinh tế ở nhiều nước, nhiều lĩnh vực có những quan điểm khác nhau, có thể tóm tắt thành các quan điểm hệ thống như sau: - Hệ thống quan điểm thứ nhất cho rằng: HQKT được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được và các chi phí bỏ ra (các nguồn nhân tài, vật lực …) để đạt được kết quả đó (Hệ thống quan điểm này phản ánh HQKT trong trạng thái tĩnh). HQKT = K/C [5] Trong đó: K là kết quả sản xuất.
C là chi phí sản xuất. Đại diện cho hệ thống quan điểm này, Culicop cho rằng: “Hiệu quả sản xuất là kết quả của một nền sản xuất nhất định, chúng ta sẽ so sánh kết quả với chi phí cần thiết để đạt kết quả đó. Khi lấy tổng sản phẩm chia cho vốn sản xuất chúng ta được hiệu suất vốn, tổng sản phẩm chia cho vật tư được hiệu suất vật tư, tổng sản phẩm chia cho số lao động được hiệu suất lao động” [3]. Với cách tính này chỉ rõ được mức độ hiệu quả của sử dụng các nguồn lực sản xuất khác nhau, từ đó so sánh được HQKT của các quy mô sản xuất khác nhau.
Nhược điểm của cách đánh giá này là không thể hiện được quy mô của HQKT nói chung [3]. ở Việt Nam một số tác giả như Trần Văn Đức (1993) cho rằng: “HQKT được xem xét trong mối tương quan giữa một bên là kết quả thu được và một bên là chi phí bỏ ra” [8]. - Hệ thống quan điểm thứ hai cho rằng: HQKT được đo bằng hiệu số giữa giá trị sản xuất đạt được và lượng chi phí đã bỏ ra để đạt được kết quả đó. HQKT = K - C [25] Tác giả Đỗ Thịnh (1988) cũng cho rằng: “Thông thường hiệu quả được Luan van 7 biểu hiện như một hiệu số giữa kết quả và chi phí…tuy nhiên trong thực tế có nhiều trường hợp không thực hiện được phép trừ, hoặc phép trừ không có ý nghĩa.
Do vậy, nói một cách linh hoạt hơn nên hiểu hiệu quả là một kết quả tốt phù hợp mong muốn” [15]. - Hệ thống quan điểm thứ ba xem xét HQKT trong phần biến động giữa chi phí và kết quả sản xuất. Theo quan điểm này, HQKT biểu hiện ở quan hệ tỷ lệ giữa phần tăng thêm của kết quả và phần tăng thêm của chi phí, hay quan hệ tỷ lệ giữa kết quả bổ sung và chi phí bổ sung. Một số ý kiến chú ý đến quan hệ tỷ lệ giữa mức độ tăng trưởng kết quả sản xuất với mức độ tăng trưởng chi phí của nền sản xuất xã hội: HQKT = K/ C [3] Trong đó: K là phần tăng thêm của kết quả sản xuất C là phần tăng thêm của chi phí sản xuất.
Đây là cách đánh giá có ưu thế khi xem xét HQKT của đầu tư theo chiều sâu hoặc trong việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, tức là nghiên cứu hiệu quả của phần chi phí đầu tư tăng thêm. Hạn chế của cách đánh giá này là không xét đến HQKT của tổng chi phí bỏ ra. - Một khái niệm cơ bản nữa bàn về hiệu quả được các tác giả: Đỗ Kim Chung, Phạm Vân Đình, Trần Văn Đức, Quyền Đình Hà (1997) thống nhất là cần phân biệt rõ 3 khái niệm cơ bản về hiệu quả: hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ và hiệu quả kinh tế [5]. + Hiệu quả kỹ thuật là số lượng sản phẩm có thể thể đạt được trên một đơn vị chi phí đầu vào.
Hiệu quả kỹ thuật được áp dụng phổ biến trong kinh tế vi mô để xem xét tình hình sử dụng nguồn lực cụ thể, nó chỉ ra rằng một đơn vị nguồn lực dùng vào sản xuất đem lại thêm bao nhiêu đơn vị sản phẩm. + Hiệu quả phân bổ là chỉ tiêu hiệu quả trong các yếu tố giá sản phẩm và giá đầu vào được tính để phản ánh giá trị sản phẩm thu thêm trên một đồng Luan van 8 chi phí chi thêm về đầu vào hay nguồn lực. + Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt cả hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ. Điều đó có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và giá trị đều tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp.
Nhìn chung, các quan điểm trên đều đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh theo tiêu chí chất lượng nhất định, nhưng hạn chế của những quan điểm trên đều chưa thể hiện được bản chất của nền kinh tế và bản chất xã hội, mà chỉ mới dừng lại xem xét trong phạm vi một doanh ngiệp, một đơn vị sản xuất kinh doanh mang tính chất trực tiếp, chưa gắn lợi ích của doanh nghiệp với lợi ích xã hội, chưa giải quyết tốt mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và xã hội. Nếu chỉ đánh giá HQKT ở khía cạnh lợi nhuận thuần tuý (kết quả sản xuất trừ chi phí) thì chưa xác định được năng suất lao động xã hội và so sánh khả năng cung cấp vật chất (sản phẩm) cho xã hội của những cơ sở sản xuất đạt được hiệu số của kết quả sản xuất trừ chi phí như nhau. Tuy nhiên nếu tập trung vào các chỉ tiêu tỷ số giữa kết quả sản xuất với chi phí hoặc vật tư và lao động thì lại chưa toàn diện bởi lẽ chỉ tiêu này chưa phân tích được sự tác động, ảnh hưởng của các yếu tố nguồn lực tự nhiên (đất đai, khí hậu, thời tiết…). Hai cơ sở sản xuất đạt được tỷ số trên như nhau, nhưng ở không gian và thời gian khác nhau thì tác động của nguồn lực tự nhiên là khác nhau và như vậy HQKT cũng sẽ không giống nhau.
Với quan điểm xem xét HQKT chỉ ở phần kết quả bổ sung và chi phí bổ sung thì cũng chưa đầy đủ. Trong thực tế kết quả sản xuất đạt được luôn là hệ quả của cả chi phí có sẵn (chi phí nền) cộng chi phí bổ sung. ở các mức chi phí nền khác nhau thì hiệu quả của chi phí bổ sung sẽ khác nhau. Tính biện chứng thống nhất của các sự vật và hiện tượng đòi hỏi khi nghiên cứu phải đảm bảo trong chừng mực nhất định sự tương ứng đó, nếu không sẽ dẫn đến kết luận sai khác với sự vận động vốn có của nó.
Luan van 9 Ở nước ta, phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của nhà nước, hoạt động kinh tế của mỗi doanh nghiệp, mỗi cơ sở sản xuất không chỉ nhằm vào tăng hiệu quả và các lợi ích kinh tế của mình, mà còn phải phù hợp với yêu cầu của xã hội và đảm bảo các lợi ích chung bởi các định hướng, chuẩn mực được Nhà nước thực hiện điều chỉnh. Như vậy khái niệm về HQKT cần được bổ sung và mở rộng. Từ những quan điểm trên, xuất phát từ lý luận thực tiễn có thể nói: “HQKT là phạm trù kinh tế xã hội phản ánh các hoạt động kinh tế trong một phương thức sản xuất nhất định, không những nó phản ánh mối quan hệ tỷ lệ giữa sự tăng trưởng của kết quả sản xuất với việc sử dụng hợp lý các nguồn lực của doanh nghiệp, của xã hội thông qua mức đầu tư chi phí mà còn mang lại lợi ích cho xã hội”.2 Nội dung và bản chất của hiệu quả kinh tế Với một lượng dự trữ tài nguyên nhất định muốn tạo ra được khối lượng sản phẩm lớn nhất là mục tiêu của các nhà sản xuất và quản lý. Nói cách khác là ở một mức sản xuất nhất định cần phải làm thế nào để có chi phí tài nguyên và lao động thấp nhất.
Điều đó cho thấy quá trình sản xuất là sự liên hệ mật thiết giữa các yếu tố đầu vào và đầu ra, là sự biểu hiện kết quả của các mối quan hệ thể hiện tính hiệu quả của sản xuất. Hoạt động sản xuất kinh doanh của từng ngành, từng doanh nghiệp được đánh giá thông qua một số chỉ tiêu có thể lượng hoá được nhưng bên cạnh đó còn có những vấn đề không thể lượng hoá được mà chỉ đánh giá mang tính chất định tính như an sinh xã hội, vấn đề môi trường sinh thái…Đánh giá đúng đắn HQKT của hoạt động sản xuất kinh doanh phải xuất phát từ nội dung và bản chất của nó, vấn đề này phụ thuộc vào bản chất chế độ chính trị xã hội mà trực tiếp tác động là quy luật kinh tế cơ bản.