Chương 1: Trình bày những nội dung cơ bản của nghiên cứu bao gồm lý do chọn đề tài, mục đích nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu. 123doc 4 Chương 2: Trình bày tổng quan về cơ sở lý thuyết về đo lường phúc lợi kinh tế, tổng giá trị kinh tế, phương pháp chi phí du hành, tóm tắt các nghiên cứu trước về chủ đề có liên quan. Chương 3: Các bước thực hiện phương pháp chi phí du hành theo vùng và mô tả dữ liệu nghiên cứu. Chương 4: Trình bày kết quả nghiên cứu theo cơ sở lý thuyết và dữ liệu nghiên cứu để trả lời các câu hỏi nghiên cứu.
Chương 5: Đưa ra kết luận và đề xuất chính sách từ kết quả nghiên cứu. 123doc 5 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. LÝ THUYẾT VỀ ƯỚC LƯỢNG PHÚC LỢI TRONG KINH TẾ MÔI TRƯỜNG Trong kinh tế học, phúc lợi của một vật nào đó được xem là những gì mà người ta sẵn lòng trả để có nó, với những giả định cho trước về phân phối thu nhập và thông tin sẵn có. Trong đánh giá về chất lượng môi trường, không thể đánh giá phúc lợi trực tiếp bằng cách sử dụng những kỹ thuật thị trường vì không có thị trường cho những người mua và người bán chất lượng môi trường.
Vì thế qua cách nhìn kinh tế học vi mô, đánh giá phúc lợi trong kinh tế môi trường sẽ dựa trên lý thuyết về đường cầu. Gregory Mankiw (2014), cầu là khái niệm biểu thị mong muốn mua và sự sẵn lòng trả của người tiêu dùng đối với một loại hàng hóa, dịch vụ. Đường cầu là đường biểu diễn mối quan hệ giữa giá cả và lượng cầu, thể hiện tác động của giá tới lượng cầu. Phản ứng của lượng cầu đối với sự thay đổi giá là sự vận động dọc theo đường cầu, khi giá cả tăng thì lượng cầu giảm và ngược lại.
Chính vì thế, đường cầu là đường dốc xuống về bên phải như hình vẽ.1 Quan hệ giữa giá cả và lượng cầu P P Sự thay đổi giá của hàng hóa sẽ gây ra sự vận động dọc theo đường cầu, không làm đường cầu dịch chuyển. Ngoài giá, các yếu tố như thu nhập, thị hiếu, giá của hàng hóa liên quan, v.v thay đổi thì đường cầu sẽ dịch chuyển sang trái hoặc sang phải theo lượng cầu. 123doc 6 Áp dụng vào kinh tế học môi trường, sử dụng đồ thị đường cầu để biểu thị giá sẵn lòng trả (WTP) của con người đối với một hàng hóa môi trường; sử dụng phương pháp tính toán WTP cho việc giảm ô nhiễm/ cải thiện chất lượng môi trường bởi vì giá thị trường của hàng hóa này không hiện hữu. Có nhiều kỹ thuật khác nhau để đánh giá WTP nhưng có thể phân thành hai cách tiếp cận: i) Cách tiếp cận dùng giá thị trường để phản ánh WTP.
Cách này đo lường thiệt hại dưới dạng mất mát thu nhập hoặc sản lượng, năng suất bị giảm và chi tiêu cần thiết để bù đắp thiệt hại môi trường. Đây là phương pháp đo lường WTP trực tiếp. ii) Cách tiếp cận tính WTP của cá nhân thông qua hành vi tiêu dùng của họ hoặc hỏi trực tiếp. Cách này sử dụng khi không có thị trường thực hoặc giá thị trường phần nào phản ánh được giá trị môi trường.
Đây là phương pháp đo lường WTP gián tiếp. Tương ứng với hai cách tiếp cận có những kỹ thuật cụ thể để đánh giá cho các vấn đề môi trường như sau: Phương pháp trực tiếp Phương pháp gián tiếp (sử dụng giá thị trường) (sử dụng giá sẵn lòng trả) 1. Thay đổi năng suất 1. Chi tiêu bảo vệ/ giảm thiệt hại 2.
Chi phí chăm sóc sức khỏe 2. Đánh giá hưởng thụ 3. Thiệt hại vốn nhân lực 3. Thị trường đại diện 4.
Chi phí thay thế/ phục hồi thiệt hại, tài 4. Đánh giá ngẫu nhiên sản, kinh doanh. Phương pháp ước lượng trực tiếp tuy sử dụng giá thị trường để đánh giá nhưng nó không hoàn toàn phản ánh giá sẵn lòng trả WTP của con người cho việc cải thiện chất lượng môi trường. Phương pháp gián tiếp khắc phục được hạn chế đó của phương pháp trực tiếp thông qua đo lường WTP bằng sự thay đổi thặng dư tiêu dùng (lợi ích ròng của một người có được từ tiêu dùng một lượng hàng hóa).
Lý thuyết kinh tế khẳng định rằng lợi ích xã hội ròng của một hàng hoá hoặc dịch vụ bằng với tổng của thặng dư của người sản xuất và thặng dư tiêu dùng (Boardman et al, 1996). Trong trường hợp hàng hóa tư nhân, thặng dư tiêu dùng là sự khác nhau giữa giá sẵn lòng trả cho một lượng hàng hóa và giá mà người đó thực trả; được đo bằng diện tích nằm dưới đường cầu, trên đường giá, giới hạn bởi lượng hàng hóa từ 0 đơn vị đến đơn vị được tiêu thụ. Trong trường hợp hàng hóa công, phải tìm ra WTP của con người thay vì dùng giá thị 123doc 7 trường, người sử dụng sẽ được hỏi WTP về lượng hàng hóa đã có sẵn thông tin, cách đo lường có thể giống như cách đo lường thay đổi thặng dư tiêu dùng cho hàng hóa tư nhân. Khó khăn của phần lớn các phương pháp đo lường phúc lợi là dựa trên việc thiết lập thị trường giả định để suy ra giá sẵn lòng trả WTP, bởi vì WTP không chỉ phản ánh sở thích và thu nhập mà còn phản ánh những giá trị không sử dụng như giá trị nhiệm ý, giá trị hiện hữu, giá trị lưu truyền, giá trị hỗ trợ.
Việc xác định tùy thuộc vào nhiều điều kiện phức tạp như cần kỹ thuật kinh tế lượng cao, đo lường các biến số không dễ dàng, nhận thức của các cá nhân về môi trường là chủ quan và chưa chắc phản ánh được giá trị, thiên lệch trong nghiên cứu, v. Tuy nhiên, đo lường phúc lợi là trọng tâm nghiên cứu của kinh tế học môi trường, nó đánh giá được những giá trị vô hình mà trước đấy không thể thực hiện được, đóng góp hữu ích cho phân tích lợi ích chi phí và rất có ý nghĩa khi làm nền tảng cho các quyết định chính sách. LÝ THUYẾT VỀ TỔNG GIÁ TRỊ KINH TẾ MÔI TRƯỜNG Một số giá trị vô hình của những hàng hóa môi trường như không khí hay nước sạch không thể lượng hóa được, nhưng xuất phát từ nhận thức của xã hội về các lợi ích của chất lượng môi trường, các giá trị này tồn tại dưới hai nguồn: giá trị sử dụng và giá trị tồn tại. Giá trị sử dụng đề cập đến sự hữu dụng đề cập đến sự hữu dụng hay lợi ích nhận được từ việc sử dụng hoặc tiếp cận một hàng hóa môi trường.
Giá trị tồn tại là sự thỏa dụng hay lợi ích nhận được từ một hàng hóa môi trường đơn giản qua sự tồn tại của nó như một hàng hóa hay dịch vụ. Mitchell và Carson (1989) đo lường tổng giá trị xã hội chung như sau: Tổng giá trị của chất lượng môi trường = Giá trị sử dụng + Giá trị tồn tại Giá trị sử dụng xuất phát trực tiếp từ việc tiêu thụ các dịch vụ do môi trường tự nhiên cung cấp gọi là giá trị sử dụng trực tiếp, khi đánh giá sẽ giúp xác định giá sẵn lòng trả để duy trì hoặc cải thiện chất lượng môi trường. Nếu sự hữu dụng có được từ việc thưởng thức chất lượng mỹ quan của môi trường thì đó là giá trị sử dụng gián tiếp. Giá trị tồn tại gồm hai động cơ: tiêu dùng của người khác và gìn giữ cho thế hệ tương lai.
Tiêu dùng của người khác là cá nhân đánh giá một hàng hóa công vì lợi ích 123doc 8 mà nó mang lại cho người khác, sự hữu dụng nhận được có tính phụ thuộc lẫn nhau. Gìn giữ cho thế hệ tương lai là ý thức phải bảo tồn môi trường cho các thế hệ tương lai và công nhận giá trị nội tại của tài nguyên thiên nhiên. Trong bất kì phương pháp ước lượng phúc lợi xã hội nào cũng tồn tại một số khó khăn, nhất là đối với các giá trị lợi ích vô hình như trên, vì chúng không được trao đổi trên thị trường nên phải tìm cách lượng hóa chúng với những giá trị bằng tiền tương đương. Đối với một số phương pháp việc ước lượng đã lượng hóa được những giá trị phúc lợi vô hình này, kể cả khái niệm về giá trị tồn tại.
Smith and Krutilla (1982) đã xếp các phương pháp đo lường phúc lợi về môi trường thành hai nhóm chung nhất: cách tiếp cận liên hệ vật chất và cách tiếp cận liên hệ hành vi, trong đó các giá trị phúc lợi vô hình được xem xét nhiều hơn ở cách tiếp cận liên hệ hành vi. Cách tiếp cận liên hệ vật chất đo lường các lợi ích dựa trên mối quan hệ vật chất giữa một tài nguyên môi trường và người sử dụng tài nguyên đó, tiêu biểu là phương pháp hàm thiệt hại sử dụng mối quan hệ hàm số để đo lường lượng giảm thiệt hại từ việc làm giảm chất gây ô nhiễm do chính sách mang lại, giá trị lợi ích sẽ được lượng hóa thành tiền qua lượng giảm thiệt hại này. Cách tiếp cận liên hệ hành vi để lượng hóa các lợi ích thông qua những quan sát hành vi trong các thị trường thực tế hoặc những câu trả lời từ khảo sát các thị trường giả định cho các hàng hóa môi trường. Ngoài ra, phương pháp này còn giải quyết giữa hành vi hoặc các trả lời được liên kết chặt chẽ như thế nào với hàng hóa môi trường.
Các phương pháp đánh giá được chia thành các phương pháp trực tiếp gồm: dựa vào thông tin thị trường thực sự có phương pháp trưng cầu dân ý và với dữ liệu thị trường giả định có phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM); các phương pháp gián tiếp, gồm: phương pháp chi tiêu bảo vệ (AEM), phương pháp chi phí du hành (TCM) và phương pháp giá hưởng thụ (HPM). Trong phạm vi của luận văn, tác giả sử dụng phương pháp chi phí du hành để đánh giá các lợi ích môi trường của một điểm du lịch. PHƯƠNG PHÁP CHI PHÍ DU HÀNH (TCM) Đây là phương pháp lâu đời nhất trong các phương pháp đánh giá hàng hóa và dịch vụ phi thị trường. Phương pháp này được phát triển chính thức từ năm 1966 bởi Clawson và Knetsch dựa trên ý tưởng của Harold Hotelling (1947).
Phương pháp này sử dụng mối quan hệ bổ sung giữa chất lượng của một tài nguyên thiên nhiên và giá trị sử dụng cho mục đích vui chơi giải trí của nó, đo lường giá trị sử dụng của một khu vực giải trí hay một địa điểm lịch sử, cũng như ước lượng những gia tăng trong giá trị sử dụng nếu địa điểm đó được cải tạo.