CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1. Lý do hình thành đề tài Công ty CPHK Jetstar Pacific Airlines (JPA) là cổ phần của 3 tập đoàn: Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh Vốn Nhà nước (SCIC) với 70%, Qantas Airways (Úc) với 27% cổ phần, và Saigon Tourist với 3%, được biết đến như là hãng hàng không giá rẻ đầu tiên tại Việt Nam. JPA chiếm khoảng 17% thị phần hàng không nội địa tại Việt Nam, là hãng Hàng không lớn thứ hai trong ngành hàng không nội địa. Tuy nhiên, kết quả hoạt động kinh doanh của JPA là lỗ kéo dài từ ngày thành lập do khai thác không hiệu quả, hãng đang ở trong giai đoạn tái cơ cấu sở hữu và xem xét lại hoạt động khai thác, thể hiện qua việc chuyển số cổ phần mà SCIC đang nắm giữ tại Jetstar Pacific cho Tổng công ty Hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines) vào 1/1/2012.
Điều này đã dấy lên sự lo ngại là bước lùi lớn về mặt cạnh tranh của thị trường hàng không nội địa và người tiêu dùng chịu thiệt vì Vietnam Airlines khi đó sẽ nắm khoảng 97% thị phần hàng không nội địa và có thể độc quyền về giá. Bên cạnh những mặt nổi được báo chí và bên ngoài biết đến thì thực trạng nội bộ của JPA cũng đang gặp phải một số vấn đề như sau: Kể từ khi được chính thức mang tên Jetstar Pacific Airlines vào tháng 5/2008, chính sách lương đã được thay đổi, áp dụng chế độ lương thõa thuận với một số vị trí chủ chốt, mức lương đã thật sự có cải thiện theo chiều hướng tốt, các chế độ phúc lợi được thay đổi cho phù hợp với hệ thống của công ty Jetstar Úc. Việc đánh giá và khen thưởng được áp dụng hàng năm. Tuy nhiên việc thay đổi này được biết đã tạo một làn bức xúc ngầm trong nội bộ do cho rằng lương được trả là cách biệt khá xa giữa vị trí nhân viên và cấp trưởng ban/trưởng phòng (chênh lệch từ 100% đến 150%), các chế độ đãi ngộ và phúc lợi được cho là không hấp dẫn bằng chế độ cũ (khi còn mang tên Pacific Airlines).
Chính sách mới này dẫn tới kết quả khoảng quí 3 năm 2008, 40% nhân viên thuộc các bộ phận chuyên môn của JPA đã chuyển sang làm việc cho các hãng Vietjet và IndoChina sau khi các hãng này được cấp giấy phép khai thác bay. Sau lần chuyển nhân sự đó, JPA đã phải tiến hành một đợt tuyển dụng nhân viên mới để bù vào các vị trí của đội ngũ chuyển đi. Tuy nhiên, lực lượng nhân viên mới này đã không trụ lại lâu trong công ty, sau 6 tháng được đào tạo cơ bản và làm việc thực tế, khoảng cuối quý 2 năm 2009 số lượng nhân viên mới này chỉ còn lại 60%. Phần lớn lý do cho rằng lương bổng không xứng đáng với đóng góp của nhân viên, một số bộ phận phải làm việc ngoài giờ nhưng không được trả tiền overtime, chính sách thưởng và chế độ phúc lợi được cho là thấp so với một số ngành như Ngân hàng, dầu khí, đặc biệt là một số chế độ đãi ngộ vẫn cho là ít so với các công ty trong chuyên ngành Hàng không… SVTH: Huỳnh Băng Tuyền GVHD: TS.
Trương Thị Lan Anh Trang 2 Từ hai sự việc trên cho thấy chính sách về lương, đãi ngộ và phúc lợi của JPA chưa thật sự hấp dẫn để có thể giữ chân nhân viên của mình. Và JPA đã tiến hành cải cách chính sách lương, việc tăng lương cho cấp nhân viên, trưởng ban, trưởng phòng đã được thực hiện. Tuy nhiên, việc tăng lương được cho rằng vẫn chưa thõa đáng với những gì mà nhân viên đang đóng góp. Khoảng quý 2 năm 2010, JPA lại tiếp tục đối mặt với việc khoảng 30% nhân viên thuộc các phòng ban chuyên môn và khoảng 20% chuyên viên có kinh nghiệm trên 4 năm và ở một số vị trí then chốt chuyển sang làm việc cho Vietstar Air và Air Mekong sau khi hai hãng này tuyển dụng.
Lần này, việc tăng lương, tính giờ overtime cũng đã được các trưởng phòng đề cập nhằm giữ chân các nhân viên này, nhưng ban giám đốc và phòng nhân sự cho rằng việc tăng lương không còn hiệu quả nữa và nhân viên sẽ sử dụng việc chuyển sang làm cho hãng khác như là một công cụ để buộc công ty lên lương cho họ. Vì thế, ban giám đốc đã quyết định để các nhân viên của mình ra đi mà không tăng lương để giữ chân họ lại. Đối diện với tình hình thực tại, JPA đã có kế hoạch cho việc điều chỉnh mức lương và đưa ra chính sách lương phù hợp với cơ cấu chuyên ngành đặc thù của lĩnh vực Hàng không. Đồng thời, JPA cũng đã lên kế hoạch tuyển nhân sự sau sự ra đi này của nhân viên, tuy nhiên, việc tuyển dụng lần này có phần khó khăn hơn, do đội ngũ có kinh nghiệm trong lĩnh vực hàng không là ít ỏi và hầu hết đều đã được 2 hãng mới tuyển dụng về với mức lương khá cao.
Các thông báo đăng tuyển vào các vị trí then chốt đòi hỏi phải có kinh nghiệm trong lĩnh vực hàng không thì vẫn chưa tìm được ứng viên thích hợp, JPA buộc phải tuyển các ứng viên có kinh nghiệm trong một số ngành kỹ thuật có liên quan như cơ khí, công nghệ thông tin, điện tử… Từ sự kiện tiếp theo cho thấy, JPA đang đứng trước khó khăn về việc tuyển dụng, đào tạo thay thế nhân sự đã chuyển đi. Các chính sách lương, phúc lợi và khen thưởng của JPA chỉ có tác dụng một phần cho nội bộ, chưa thật sự thu hút các ứng viên tiềm năng bên ngoài, nên việc tuyển dụng của JPA còn gặp khó khăn. Hiện tại JPA đang tiến hành kế hoạch mở rộng qui mô kinh doanh gấp đôi vào năm 2013 (tăng đội bay lên 14 chiếc với toàn bộ chủng loại Airbus A320), đòi hỏi JPA phải tuyển dụng thêm nguồn nhân lực và đạo tạo đội ngũ mới ngay từ bây giờ. Chính vì vậy, bên cạnh việc giữ chân các nhân viên hiện có, JPA còn phải thu hút các ứng viên tiềm năng, phù hợp với yêu cầu đặc thù của lĩnh vực hàng không.
Đồng thời, là một hãng hàng không giá rẻ thì việc trả lương cao không là yếu tố cạnh tranh lâu dài cho JPA, mà yếu tố cạnh tranh lâu dài sẽ là sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực, công việc này đòi hỏi JPA phải có những bước đi hiệu quả ngay từ tuyển dụng ban đầu. JPA phải tuyển dụng đúng ứng viên đáp ứng được các yêu cầu của mình và ứng viên đó muốn gắn bó lâu dài với công ty. Để thực hiện được điều này thì JPA cần phải thông tin đến cho các ứng SVTH: Huỳnh Băng Tuyền GVHD: TS. Trương Thị Lan Anh Trang 3 viên biết được các giá trị hấp dẫn và các phúc lợi mà ứng viên có được khi làm việc cho JPA.
Trong những năm gần đây khái niệm thương hiệu nhà tuyển dụng (NTD) đang được biết đến, khái niệm này được cho là quan trọng đối với việc phát triển của doanh nghiệp trong bối cảnh cạnh tranh về chất xám như hiện nay và đang trở thành một trong những vấn đề mà các doanh nghiệp Việt Nam quan tâm. Thương hiệu NTD (Employer Brand) gắn với “giá trị mà NTD mang đến cho nhân viên và ứng viên tiềm năng (Employer Value Proposition)” nhằm giữ chân nhân viên và thu hút các ứng viên tiềm năng. Tên đề tài Phân tích và đề xuất xây dựng thương hiệu nhà tuyển dụng cho hãng Hàng không Jetstar Pacific Airlines. Mục tiêu đề tài và phạm vi thực hiện 1.
Mục tiêu đề tài Như đã phân tích về thực trạng của JPA thì việc ứng dụng khái niệm thương hiệu NTD vào tình hình và nhu cầu hiện tại ở JPA là khá phù hợp và trở nên cần thiết cho mục tiêu phát triển hàng không giá rẻ với tính cạnh tranh lâu dài. Tuy nhiên, khái niệm này vẫn chưa được các ban lãnh đạo của JPA quan tâm. Dù chưa thật sự quan tâm đến việc xây dựng thương hiệu NTD, nhưng JPA lại đang hướng việc tạo ra các thông điệp gửi đến các ứng viên các chế độ đãi ngộ và phúc lợi mà công ty đang có. Do đó, mục tiêu của đề tài sẽ là: Mô tả, phân tích và nhận dạng thực trạng thương hiệu NTD của JPA.
Trong phần này xác định độ mạnh của thương hiệu NTD trong JPA, các hoạt động tạo ra các giá trị mang lại cho nhân viên và ứng viên là hành động tự phát hay chủ đích muốn hướng tới xây dựng thương hiệu NTD. Và nhận định hiệu quả của các hoạt động này thông qua những giá trị mà JPA muốn mang lại cho nhân viên và ứng viên so với việc nhân viên nhận được và ứng viên cảm nhận được các giá trị đó. Đưa ra các điểm mạnh, điểm yếu của thực trạng thương hiệu NTD tại JPA. Từ đó: Xác định lại “giá trị mà nhà tuyển dụng cung cấp cho nhân viên và ứng viên tiềm năng (Employer Value Proposition)” mà JPA cần phải có.
Dựa trên các EVP này và các cơ sở lý thuyết về thương hiệu NTD thành công sẽ đưa ra các biện pháp trong việc xây dựng thương hiệu NTD tại JPA. SVTH: Huỳnh Băng Tuyền GVHD: TS. Trương Thị Lan Anh Trang 4 1. Phạm vi thực hiện Do mục tiêu của đề tài là mô tả, phân tích, nhận dạng và đưa ra điểm mạnh, điểm yếu của thực trạng thương hiệu NTD của JPA liên quan đến: (1) Độ mạnh của thương hiệu nhà tuyển dụng trong JPA.
(2) Các giá trị mà JPA hướng tới tạo ra cho người lao động hiện tại và tương lai. (3) Mức độ thực hiện và truyền thông các giá trị mà JPA muốn tạo nên đến người lao động hiện tại và tương lai. (4) Các giá trị mà nhân viên hiện tại cảm nhận được và các giá trị giữ chân nhân viên ở lại làm việc lâu dài cho JPA. (5) Các giá trị ứng viên cảm nhận được và các giá trị làm cho ứng viên quan tâm đến JPA hơn các công ty khác.
Vì vậy phạm vi thực hiện sẽ là cấp lãnh đạo và nhân viên của JPA và ứng viên tiềm năng bên ngoài tại khu vực Thành phố Hồ Chí Minh. SVTH: Huỳnh Băng Tuyền GVHD: TS. Trương Thị Lan Anh Trang 5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.