Luận án tiến sĩ kỹ thuật phân tích dao động dầm tấm sandwich 2d fgm hai và ba pha bằng phương pháp phần tử hữu hạn

Luận án tiến sĩ kỹ thuật phân tích dao động dầm tấm sandwich 2D FGM hai và ba pha bằng phương pháp phần tử hữu hạn, ứng dụng hiệu quả trong nghiên cứu kỹ thuật.

Chuyên ngành

Cơ học vật liệu

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án
159
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

0.1. Danh mục ký hiệu và chữ viết tắt

0.2. Danh sách hình vẽ

0.3. Danh sách bảng

MỞ ĐẦU. MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Vật liệu có cơ tính biến thiên

1.2. Dao động tự do của dầm FGM

1.3. Dầm FGM có cơ tính biến đổi ngang

1.4. Dầm FGM có cơ tính biến đổi dọc

1.5. Dao động tự do của dầm sandwich FGM

1.6. Dầm FGM và dầm sandwich FGM chịu tải trọng di động

1.7. Dao động của tấm FGM

1.8. Phân tích tấm sandwich FGM

1.9. Phân tích tấm 2D-FGM

1.10. Tình hình nghiên cứu trong nước

1.11. Định hướng nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: DẦM SANDWICH 2D-FGM HAI PHA

2.1. Dầm sandwich 2D-FGM hai pha

2.2. Mô hình dầm sandwich 2D-FGM hai pha

2.3. Tính chất hiệu dụng của vật liệu FGM hai pha

2.4. Trường chuyển vị theo lý thuyết biến dạng trượt bậc ba

2.5. Trường biến dạng và ứng suất

2.6. Năng lượng biến dạng đàn hồi

2.7. Thế năng của lực điều hòa di động

2.8. Phương trình vi phân chuyển động của dầm hai pha

2.9. Mô hình phần tử hữu hạn cho dầm hai pha

2.10. Ma trận độ cứng và ma trận khối lượng phần tử

2.11. Vec-tơ lực nút của lực điều hòa di động

2.12. Phương trình chuyển động dạng rời rạc

2.13. Thuật toán số

2.14. Kết quả số và thảo luận

2.15. Nghiên cứu kiểm chứng

2.16. Tần số dao động riêng

2.17. Đáp ứng động lực học

3. CHƯƠNG 3: DẦM SANDWICH 2D-FGM BA PHA

3.1. Dầm sandwich 2D-FGM ba pha

3.2. Mô hình dầm sandwich 2D-FGM ba pha

3.3. Tính chất hiệu dụng của vật liệu FGM ba pha

3.4. Trường chuyển vị theo lý thuyết biến dạng trượt lượng giác

3.5. Các thành phần biến dạng và ứng suất

3.6. Năng lượng biến dạng đàn hồi

3.7. Thế năng của khối lượng di động

3.8. Phương trình vi phân chuyển động của dầm ba pha

3.9. Mô hình phần tử hữu hạn cho dầm ba pha

3.10. Trường nội suy làm giàu

3.11. Ma trận độ cứng phần tử

3.12. Ma trận khối lượng phần tử

3.13. Phần tử khối lượng di động và véc-tơ lực nút

3.14. Phương trình chuyển động dạng rời rạc

3.15. Kết quả số và thảo luận

3.16. Nghiên cứu kiểm chứng và hội tụ

3.17. Tần số dao động tự do

3.18. Đáp ứng động lực học

4. CHƯƠNG 4: DAO ĐỘNG TỰ DO CỦA TẤM SANDWICH 2D-FGM BA PHA

4.1. Dao động tự do của tấm sandwich 2D-FGM ba pha

4.2. Mô hình tấm sandwich 2D-FGM ba pha

4.3. Trường chuyển vị theo lý thuyết Mindlin

4.4. Trường biến dạng và ứng suất

4.5. Các biểu thức năng lượng

4.6. Phương trình vi phân chuyển động của tấm ba pha

4.7. Phần tử tấm Q9 với nội suy liên kết

4.8. Phương pháp nội suy liên kết

4.9. Ma trận độ cứng phần tử tấm Q9

4.10. Ma trận khối lượng phần tử tấm Q9

4.11. Phương trình chuyển động dạng rời rạc

4.12. Kết quả số và thảo luận

4.13. Nghiên cứu kiểm chứng

4.14. Kết quả số

4.15. Ảnh hưởng của sự phân bố vật liệu

4.16. Ảnh hưởng của mô hình đồng nhất hóa vật liệu

4.17. Ảnh hưởng của tỷ số giữa chiều dài và chiều dày tấm

4.18. Các dạng dao động của tấm

5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN TỚI LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Phương pháp phần tử hữu hạn

Phương pháp phần tử hữu hạn (PTHH) là công cụ chính được sử dụng trong nghiên cứu này để phân tích dao động của dầm và tấm sandwich 2D-FGM. Phương pháp này cho phép mô hình hóa các kết cấu phức tạp với sự biến thiên liên tục của vật liệu theo cả chiều dài và chiều cao. PTHH được áp dụng để xây dựng các mô hình toán học, từ đó giải quyết các bài toán dao động tự do và cưỡng bức. Các ma trận độ cứng và khối lượng được xác định dựa trên lý thuyết biến dạng trượt bậc ba và lượng giác, đảm bảo độ chính xác cao trong mô phỏng.

1.1. Mô hình phần tử hữu hạn cho dầm hai pha

Mô hình phần tử hữu hạn cho dầm sandwich 2D-FGM hai pha được xây dựng dựa trên lý thuyết biến dạng trượt bậc ba. Các ma trận độ cứng và khối lượng được tính toán dựa trên trường chuyển vị và biến dạng. Phương trình vi phân chuyển động được rời rạc hóa để giải quyết bài toán dao động. Kết quả số cho thấy sự hội tụ nhanh chóng của phương pháp, đặc biệt trong việc xác định tần số dao động riêng và đáp ứng động lực học.

1.2. Mô hình phần tử hữu hạn cho dầm ba pha

Đối với dầm sandwich 2D-FGM ba pha, mô hình phần tử hữu hạn được phát triển dựa trên lý thuyết biến dạng trượt lượng giác. Các thành phần biến dạng và ứng suất được tính toán để xác định năng lượng biến dạng đàn hồi. Phương trình chuyển động dạng rời rạc được giải bằng thuật toán số, cho phép phân tích đáp ứng động lực học dưới tác động của khối lượng di động. Kết quả cho thấy sự ảnh hưởng đáng kể của mô hình đồng nhất hóa vật liệu đến các đặc trưng dao động.

II. Dao động dầm tấm sandwich 2D FGM

Dao động dầm tấm sandwich 2D FGM là trọng tâm của nghiên cứu này. Các kết cấu này được thiết kế với tính chất vật liệu biến thiên theo cả chiều dài và chiều cao, mang lại khả năng chịu tải và tối ưu hóa kết cấu. Nghiên cứu tập trung vào việc phân tích dao động tự do và cưỡng bức của dầm và tấm sandwich 2D-FGM, đặc biệt là dưới tác động của tải trọng di động. Các kết quả số cho thấy sự phụ thuộc của tần số dao động và đáp ứng động lực học vào các tham số vật liệu và tỷ số chiều dài/chiều cao.

2.1. Dao động tự do của dầm sandwich 2D FGM

Dao động tự do của dầm sandwich 2D-FGM được nghiên cứu dựa trên các mô hình phần tử hữu hạn. Tần số dao động riêng được xác định thông qua việc giải phương trình đặc trưng. Kết quả cho thấy sự ảnh hưởng rõ rệt của các tham số vật liệu và tỷ số chiều dài/chiều cao đến tần số dao động. Các mô hình đồng nhất hóa vật liệu như Voigt và Mori-Tanaka cũng được so sánh để đánh giá độ chính xác của kết quả.

2.2. Dao động cưỡng bức dưới tác động tải trọng di động

Dao động cưỡng bức của dầm sandwich 2D-FGM dưới tác động của tải trọng di động được phân tích bằng phương pháp phần tử hữu hạn. Đáp ứng động lực học được xác định thông qua việc giải phương trình chuyển động dạng rời rạc. Kết quả cho thấy sự phụ thuộc của độ võng động lực học vào vận tốc và tần số của tải trọng di động. Các tham số động lực học cũng được đánh giá để hiểu rõ hơn về ứng xử của kết cấu.

III. Vật liệu FGM và kết cấu sandwich

Vật liệu FGMkết cấu sandwich là hai yếu tố chính trong nghiên cứu này. Vật liệu FGM với tính chất cơ-lý biến thiên liên tục giúp khắc phục các nhược điểm của vật liệu composite truyền thống, đặc biệt là hiện tượng tách lớp. Kết cấu sandwich 2D-FGM được thiết kế với các lớp vật liệu có tính chất biến đổi theo cả chiều dài và chiều cao, mang lại khả năng chịu tải và tối ưu hóa kết cấu. Nghiên cứu tập trung vào việc phân tích ảnh hưởng của sự phân bố vật liệu và mô hình đồng nhất hóa đến các đặc trưng dao động của kết cấu.

3.1. Tính chất hiệu dụng của vật liệu FGM

Tính chất hiệu dụng của vật liệu FGM được xác định dựa trên các mô hình đồng nhất hóa như Voigt, Mori-Tanaka và Maxwell. Các mô hình này được sử dụng để tính toán mô-đun đàn hồi và mô-đun trượt hiệu dụng của vật liệu FGM. Kết quả cho thấy sự khác biệt đáng kể giữa các mô hình, đặc biệt là trong việc xác định tần số dao động và đáp ứng động lực học của kết cấu.

3.2. Ảnh hưởng của kết cấu sandwich đến dao động

Kết cấu sandwich 2D-FGM được thiết kế với các lớp vật liệu có tính chất biến đổi theo cả chiều dài và chiều cao. Nghiên cứu tập trung vào việc phân tích ảnh hưởng của sự phân bố vật liệu và tỷ số chiều dài/chiều cao đến các đặc trưng dao động. Kết quả cho thấy sự ảnh hưởng rõ rệt của các tham số này đến tần số dao động và đáp ứng động lực học của kết cấu.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN Chương này trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu trong lĩnh vực phân tích dao động kết cấu dầm, tấm FGM và dầm, tấm sandwich FGM. Các kết quả và phương pháp nghiên cứu liên quan tới dao động của dầm, tấm sandwich FGM với cơ tính biến đổi theo cả chiều cao và chiều dài kết cấu được chú trọng thảo luận chi tiết. Các kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học trong nước liên quan tới dao động của dầm, tấm FGM được trình bày ở cuối chương. Trên cơ sở phân tích các kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước, cuối chương đưa ra định hướng nghiên cứu cho luận án.

Vật liệu có cơ tính biến thiên Vật liệu có cơ tính biến thiên (FGM) được các nhà khoa học Nhật Bản thuộc Đại học Tohoku (thành phố Sendai) khởi tạo lần đầu tiên vào năm 1984 với mục đích ban đầu làm vật liệu cách nhiệt dùng trong công nghiệp hàng không vũ trụ [1]. FGM là loại vật liệu composite thế hệ mới, được tạo từ hai hay nhiều thành phần, thông thường là gốm và kim loại, trong đó tỷ phần thể tích của các vật liệu thành phần thay đổi liên tục theo một hoặc nhiều hướng không gian. Với sự thay đổi liên tục, trơn của tính chất cơ-lý theo tọa độ không gian, FGM khắc phục được các nhược điểm cố hữu của vật liệu composite truyền thống như sự tập trung ứng suất, tách lớp. Với ưu điểm này, FGM ngày càng được sử dụng rộng rãi để chế tạo các phần tử kết cấu dùng trong nhiều ngành công nghiệp khác nhau, đặc biệt trong các môi trường khắc nghiệt như nhiệt độ cao, có sự ăn mòn của a-xit [2, 3].

Như minh họa trên Hình 1.1, FGM ngày nay được sử dụng rộng rãi trong hầu hết các ngành công nghiệp, từ hàng không, vũ trụ, dân dụng, năng lượng nguyên tử, quốc phòng và thậm chí cả trong y học. Tùy thuộc vào quy luật thay đổi tỷ phần thể tích của các vật liệu thành phần, FGM có thể được phân ra làm các dạng khác nhau. Dạng phổ biến và được quan tâm nghiên cứu nhiều nhất là FGM với quy luật hàm số lũy thừa (Power-law Functionally Graded Material, P-FGM ). Chẳng hạn dầm FGM hai pha (pha gốm và pha kim loại) với tỷ phần thể tích của pha gốm (Vc ) và pha kim loại (Vm ) thay đổi theo chiều cao theo hàm số lũy thừa như sau  n z 1 Vc = + , Vm = 1 −Vc (1.1) h 2 trong đó h là chiều dày dầm; z là tọa độ theo chiều dày, tính từ mặt giữa; n - chỉ số mũ, 6 7 Hình 1.1: Một số ứng dụng điển hình của FGM không âm, xác định sự phân bố của các vật liệu thành phần.

Kết cấu FGM với tỷ phần thể tích của vật liệu thành phần thay đổi theo chiều dày như (1.1) thường được sử dụng cho kết cấu làm việc trong môi trường nhiệt độ cao, trong đó mặt giàu gốm (ceramic rich surface), z = h/2, có khả năng kháng nhiệt tốt, được thiết kế tiếp xúc với môi trường có nhiệt độ cao. Các tính chất hiệu dụng (effective properties) của FGM được đánh giá trên cơ sở mô hình đồng nhất hóa vật liệu lựa chọn. Mô hình Voigt và mô hình Mori-Tanaka là hai mô hình phổ biến nhất thường được sử dụng để đánh giá cho FGM hai pha. Mô hình Voigt là mô hình đơn giản nhất, trong đó tính chất hiệu dụng (P f ) (chẳng hạn mô-đun đàn hồi, mật độ khối.

) của FGM được tính bởi P f (z) = PcVc (z) + PmVm (z) (1.2) Thế phương trình (1.1) vào phương trình (1.2) ta được z 1 n   P f (z) = (Pc − Pm ) + + Pm (1.3) h 2 Mô-đun đàn hồi hiệu dụng (E f ) và hệ số Poisson (ν f ) tính theo mô hình Mori- Tanaka [4] cho bởi 9K f G f 3K f − 2G f Ef = , νf = (1.4) 3K f + G f 6K f + 2G f trong đó K f và G f tương ứng là các mô-đun khối và mô-đun trượt hiệu dụng. Các mô- đun này được tính từ các hệ số đàn hồi và tỷ phần thể tích của các vật liệu thành phần 8 như sau K f − Km Vc = Kc − Km 1 +Vm (Kc − Km )/(Km + 4Gm /3) (1.5) G f − Gm Vc = Gc − Gm 1 +Vm (Gc − Gm )/[Gm + Gm (9Km + 8Gm )/(6Km + 12Gm )] Trong phương trình (1.5), Kc , Km , Gc , Gm tương ứng là các mô-đun khối và mô-đun trượt của pha gốm và pha kim loại. Cần lưu ý rằng mô hình Mori-Tanaka chỉ cho phép ta xác định các mô-đun đàn hồi hiệu dụng còn mật độ khối (ρ) vẫn tính theo công thức (1.3) của mô hình Voigt. Ngoài mô hình Voigt và Mori-Tanaka còn có một số mô hình khác như mô hình Kerner, Hashin–Shtrikman, Tamura-Tomota-Ozawa.

cũng được sử dụng để đánh giá các tính chất hiệu dụng của kết cấu FGM. Ảnh hưởng của các mô hình đồng nhất hóa vật liệu tới ứng xử cơ học của dầm, tấm FGM được nghiên cứu bởi Loja và đồng nghiệp [5], Srividhya và đồng nghiệp [6]. Các nghiên cứu này chỉ ra rằng tần số dao động riêng và độ võng của kết cấu dầm, tấm FGM ảnh hưởng rõ rệt bởi mô hình đồng nhất hóa. Bên cạnh FGM với quy luật lũy thừa (1.1), kết cấu FGM với quy luật hàm số mũ (Exponential Functionally Graded Material, E-FGM) và quy luật Sigmoid (Sigmoid Functionally Graded Material, S-FGM) cũng được một số tác giả quan tâm nghiên cứu.

Tính chất hiệu dụng (P f ) của kết cấu E-FGM cho bởi [7, 8] Pc   − 21 ln P (1− 2zh ) P f (z) = Pc e m (1.6) Mặt dưới của kết cấu (z = −h/2) theo quy luật hàm số mũ (1.6) cũng hoàn toàn là kim loại, trong khi mặt trên (z = h/2) hoàn toàn là gốm. Tính chất hiệu dụng của kết cấu S-FGM sử dụng hai hàm số lũy thừa như sau [9]    1 2z h 1− 1− với 0 ≤ z ≤   2 h 2 P f (z) =   (1.7) 1 2z h 1− với − ≤ z ≤ 0    2 h 2 Phần lớn các nghiên cứu về ứng xử cơ học của kết cấu FGM tập trung vào sự phân bố của vật liệu thành phần tuân theo hàm lũy thừa nên luận án này chỉ quan tâm tới kết cấu P-FGM. Kết cấu E-FGM và S-FGM sẽ không được quan tâm nghiên cứu trong luận án này. Dao động tự do của dầm FGM Trên cơ sở sự phân bố của vật liệu thành phần, dầm FGM có thể phân làm các loại khác nhau: dầm FGM có cơ tính biến đổi ngang (Transverse FGM beams), dầm FGM 9 có cơ tính biến đổi dọc (Axially FGM beams) và dầm có cơ tính biến dổi theo cả chiều cao và chiều dài (dầm 2D-FGM).2 minh họa ba loại dầm FGM được quan tâm nghiên cứu trong các bài toán dao động tự do.

Dầm FGM có cơ tính biến đổi ngang Dầm FGM với cơ tính biến đổi ngang (transverse FGM beams) tức là các tính chất cơ học của dầm biến đổi theo chiều cao dầm theo một quy luật nào đó, như minh họa trên Hình 1.2 (a), được quan tâm nghiên cứu nhiều hơn cả. Tần số dao động của dầm này được một số tác giả tính toán bằng phương pháp giải tích. Aydogdu và Taskin [7] nghiên cứu dao động tự do của dầm P-FGM và dầm E-FGM với tính chất cơ-lý thay đổi theo chiều cao dầm. Phương trình chuyển động cho dầm được xây dựng trên cơ sở lý thuyết dầm cổ điển và lý thuyết biến dạng trượt bậc cao.

Các tác giả sử dụng nghiệm dạng Navier để thu nhận tần số và mốt dao động của dầm FGM với biên tựa giản đơn. Sina và cộng sự [10] đề nghị lý thuyết biến dạng trượt mới, khác với lý thuyết biến dạng trượt bậc nhất truyền thống, để xây dựng phương trình chuyển động và lời giải giải tích cho bài toán dao động tự do của dầm P-FGM. Trong [11], Li sử dụng phương pháp giải tích trong phân tích dao động tự do và sự lan truyền sóng trong dầm FGM với tính chất vật liệu thay đổi tùy ý theo chiều cao dầm. Phương pháp không gian trạng thái (state space method) được Ying và cộng sự [12] dùng để thu nhận nghiệm của hệ phương trình vi phân đạo hàm riêng cho bài toán dao động tự do và bài toán uốn của dầm P-FGM nằm trên nền đàn hồi hai tham số.

Mô hình dầm thứ bậc (hierarchical beam model) được Giunta và đồng nghiệp [13] sử dụng để mô tả trường chuyển vị cho bài toán dao động tự do của dầm P-FGM. Tần số dao động riêng của dầm cũng được các tác giả tính toán trên cơ sở phương pháp giải tích. Phương pháp ma trận độ cứng động học được Su và Banerjee [14] sử dụng để nghiên cứu dao động tự do của dầm Timoshenko P-FGM. Phương pháp này cho phép xác định tần số dao động riêng của dầm chỉ bằng một phần tử.

Một số lý thuyết biến dạng trượt cải tiến dùng cho phân tích dầm FGM đã được đề xuất trong những năm gần đây. Để tránh việc sử dụng hệ số điều chỉnh trượt, Thai và Vo [15] đề nghị lý thuyết biến dạng trượt bậc cao, trong đó ứng suất trượt triệt tiêu tại các bề mặt dầm. Kết quả số trong phân tích uốn và dao động tự do của dầm P-FGM cho thấy lý thuyết đề xuất cho kết quả rất sát với kết quả sử dụng các lý thuyết biến dạng trượt có trước. Larbi và cộng sự [16] đề xuất lý thuyết biến dạng trượt cho phân tích uốn và dao động tự do của dầm FGM, trong đó chuyển vị dọc trục được giả định phân bố với quy luật hypebôlic theo chiều cao dầm.

Vị trí trục trung hòa của dầm được xét tới trong lý thuyết đề xuất, vì thế giúp loại bỏ các số hạng tương hỗ trong các phương trình vi phân cân bằng và chuyển động của dầm. Lý thuyết biến dạng trượt với trường chuyển vị dạng 10 Hình 1.2: Dầm FGM với cơ tính biến đổi theo chiều cao (a); Cơ tính biến đổi theo chiều dài (b); Cơ tính biến đổi theo cả chiều cao và dài (c). đa thức được Pradhan và Chakraverty [17] đề xuất cho nghiên cứu dao động tự do của dầm P-FGM. Ứng suất trượt trong lý thuyết đề xuất thỏa mãn điều kiện tự do ứng suất trên các mặt của dầm.

Ảnh hưởng của một số lý thuyết biến dạng trượt khác nhau tới tần số dao động riêng của dầm P-FGM được Pradhan và Chakraverty nghiên cứu trong [18].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Phân Tích Dao Động Dầm Tấm Sandwich 2D FGM Bằng Phương Pháp Phần Tử Hữu Hạn là một nghiên cứu chuyên sâu về ứng dụng phương pháp phần tử hữu hạn trong phân tích dao động của dầm tấm sandwich làm từ vật liệu chức năng phân cấp (FGM). Tài liệu này cung cấp cái nhìn chi tiết về mô hình hóa, phân tích và kết quả thực nghiệm, giúp độc giả hiểu rõ hơn về hành vi cơ học của các cấu trúc phức tạp. Đây là nguồn tài liệu quý giá cho các nhà nghiên cứu, kỹ sư và sinh viên trong lĩnh vực cơ học kết cấu và vật liệu tiên tiến.

Để mở rộng kiến thức về các phương pháp phân tích và ứng dụng trong nghiên cứu khoa học, bạn có thể tham khảo thêm 2 tóm tắt luận án tiến sĩ tiếng việt ncs nguyễn khắc tấn, Luận văn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng, và Luận văn thạc sĩ xây dựng thuật toán trích xuất số phách trên phiếu trả lời trắc nghiệm của trường đại học phan thiết. Những tài liệu này sẽ giúp bạn khám phá thêm các phương pháp nghiên cứu hiện đại và ứng dụng thực tiễn trong nhiều lĩnh vực khác nhau.