Chương 1 TỎNG QUAN 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu 1. Nghiên cứu về chuỗi giá trị Nguyễn Thị Tuyết Mai (2020) phân tích chuỗi giá trị ngành hoa và cây kiếng tại tỉnh Đồng Tháp. Phương pháp nghiên cứu sử dụng là phương pháp thống kê mô tả, phân tích chi phí — lợi ich, phân tích giá trị gia tăng, phỏng vấn chuyên gia và phân tích SWOT.
Kết quả phân tích cho thấy chuỗi giá trị kiêng công trình ở thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp mang lại hiệu quả cao cả về kinh tế lẫn xã hội. Kết quả phân phối lợi nhuận trong chuỗi giá trị cho thấy lãi ròng thu được cho đối tượng hộ sản xuất là cao nhất (chiếm 57,5%), kế đến là đối tượng thương lái (chiếm 36,5%) và thấp nhất là đối tượng thu gom (chiếm 6%). Ngoài ra, kết quả nghiên cứu còn phân tích về các tác nhân và các mỗi liên kết của chuỗi, kết quả cho thấy do quy mô sản xuất nhỏ lẻ nên việc áp dụng các tiễn bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn hạn chế, đồng thời còn thiếu tính liên kết trong sản xuất và tiêu thụ. Nguyễn Văn Quân và Dương Thị Mỹ Tiên (2020) đã nghiên cứu chuỗi giá trị ngành hoa lan Mokara cắt cành trên địa bàn huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích thống kê mô tả, phân tích lợi ích và chỉ phí, phân tích SWOT để tìm ra các giải pháp nâng cao giá trị hoa lan Mokara. Kết quả nghiên cứu cho thấy, diện tích trồng lan Mokara cắt cành bình quân là 0,33 ha/hộ; lợi nhuận trung bình trên 0,33 ha là 231 triệu đồng/năm. Chuỗi giá trị có 5 chức năng cơ bản: chức năng đầu vào, sản xuất, thu gom, thương mại và tiêu dùng; có 5 chuỗi giá trị hoa lan Mokara, tương ứng với chuỗi giá trị có 4 kênh buôn bán chủ yếu. Trong đó, kênh buôn bán cho thương lái chiếm tỉ trọng cao (76,5%).
Nguồn thông tin giá bán chủ yếu đến từ thương lái (73,5%). Có đến 55,1% nông hộ cho rằng thương lái quyết định giá mua; 32,7% là sự thỏa thuận giữa nông hộ và thương lái; còn lại nông hộ tự định giá chiếm 12,2%. Trần Tiến Khai và cộng sự (2011) đã phân tích chuỗi giá trị dừa Bến Tre dựa trên các khung phương pháp luận về chuỗi giá trị của GTZ, ACDI/VOCA và M4P. Ngoài ra, nghiên cứu còn áp dụng phương pháp luận về phân tích ngành hàng của FAO (2005).
Trong nghiên cứu phân tích chuỗi giá trị dừa Bến Tre, Trần Tiến Khai và cộng sự đã sử dụng cả hai phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng. Đối với nhóm phương pháp định lượng, nghiên cứu áp dụng các công cụ điều tra thống kê, phân tích chi phí - lợi nhuận (cost and return analysis), phân tích giá tri gia tang (value added analysis). Kết quả báo cáo nghiên cứu đã phân tích Chuỗi giá trị dừa Bến Tre có năng lực cạnh tranh rất tốt nhờ tận dụng được các nguồn lực sản xuất. Các chỉ số thể hiện năng lực cạnh tranh cao, thé hiện kha nang canh tranh về giá của các sản phâm dừa Bến Tre trên thị trường thế giới.
Tuy nhiên, còn tồn đọng một số hạn chế như sự liên kết lỏng lẻo trong quan hệ thương mại giữa các tác nhân trong chuỗi, công nghệ chế biến chưa cao, năng lực chế biến chưa được phát huy tối đa, các sản phẩm chế biến còn thiên về sản phẩm. Nghiên cứu về mối liên kết Huỳnh Văn Hiền (2020) nghiên cứu các mối liên kết và tiêu thụ theo chứng nhận chất lượng ngành hàng cá tra vùng đồng bằng sông Cửu Long. Tác giả sử dụng phương pháp phân tích hình hồi quy binary logistic dé xác định các yếu tố anh hưởng tới mô hình liên kết, chứng nhận trong nuôi cá tra, áp dụng mô hình sản xuất biến ngẫu nhiên dạng Cobb-Douglas dé xác định các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu qua kỹ thuật (TE) của các cơ sở nuôi cá tra, phương pháp phân tích kinh tế chuỗi để xác định lợi nhuận cho toàn chuỗi. Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố ảnh hưởng tới mô hình liên kết gồm: (i) điện tích nuôi cá tra; (ii) trình độ học van của chủ cơ sở nuôi cá tra; (iii) tin cậy vào mô hình liên kết.
Các yếu tố ảnh hưởng tới nuôi cá tra chứng nhận chất gồm: (i) Kinh nghiệm nuôi cá tra; (11) Vay vốn nuôi cá tra va (iii) điện tích nuôi cá tra. Nghiên cứu đã phân tích hiện trạng các mối liên kết và tiêu thụ của ngành hàng cá tra vùng ĐBSCL cũng như xác định được các yếu tố có ảnh hưởng đến mô hình liên kết và chứng nhận. Từ đó làm cơ sở dé tô chức mô hình liên kết áp dụng các tiêu chuẩn chứng nhận xuất khẩu một cách khoa học và hiệu quả hơn. Nghiên cứu chỉ ra được các yêu tố ảnh hưởng tới mô hình liên kết của hình thức nuôi cá tra tiêu chuẩn chứng nhận chất lượng cao hơn so với thông thường.
Bên cạnh đó, lợi nhuận thu được cho toàn chuỗi của tiêu chuẩn chứng nhận xuất khâu cao hơn so với nuôi thông thường. Đỗ Quang Huy (2017) nghiên cứu mối liên kết của hộ nông dân đối với các tác nhân khác trong chuỗi giá trị rau sản xuất — tiêu thụ rau hữu cơ. Với việc áp dụng các phương pháp phân tích số liệu (thống kê mô tả, so sánh, cây vấn đề), phân tích SWOT, phân tích các chỉ tiêu chỉ phí và lợi ích. Từ đó nghiên cứu chỉ ra cho thấy thực trạng mối liên kết trong tiêu thụ rau hữu cơ của các hộ nông dân phần lớn sử dụng hình thức liên kết là thỏa thuận miệng (hợp đồng miệng).
Tác giả chỉ ra được các yếu tố khách quan (đến từ bản thân các tác nhân), các yếu tố chủ quan (thị trường, giá thành, thị hiếu tiêu dùng, chat lượng sản phẩm) là các yếu tố chính ảnh hưởng đến mối liên kết rau hữu cơ. Xác định các khó khăn, vấn đề còn tồn đọng của các tác nhân trong chuỗi và phân tích, đề xuất các giải pháp thực tế nhằm tăng cường mối quan hệ liên kết trong sản xuất — tiêu thụ rau hữu cơ trên địa bàn huyện Lương Sơn. Nguyễn Văn Nên (2015) nghiên cứu mối liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị đừa tại Bến Tre, phương pháp nghiên cứu sử dụng là phương pháp phân tích sự liên kết trong chuỗi giá trị để phân tích mối liên kết dọc và liên kết ngang. Kết quả cho thay, các mối liên kết trong chuỗi giá trị dừa tại Bến Tre còn khá lỏng lẻo, quá trình hoạt động và vận hành của chuỗi giá trị chưa dựa trên những mối liên kết bền vững và chặt chẽ.
Các liên kết ngang và liên kết dọc đúng nghĩa chưa hình thành; do đó, quá trình vận hành chuỗi giá trị còn nhiều điểm gút, chuỗi giá trị dừa khó bảo đảm được về chất lượng sản phẩm và 6n định giá, cũng như sản lượng. Điều này tác động rất lớn đến năng lực cạnh tranh của ngành dừa Bến Tre, nhất là đối với thị trường xuất khâu. Nguyễn Minh Tôn (2015) nghiên cứu tình hình liên kết giữa các tác nhân tham gia chuỗi giá trị heo tại huyện Thống Nhất tỉnh Đồng Nai. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích thống kê, phương pháp chuyên gia, phương pháp phân tích chuỗi giá trị và phân tích ma trận SWOT.
Kết quả cho thấy chuỗi giá trị heo tại huyện Thống Nhat hoạt động tương đối hiệu quả với số lượng các hộ chăn nuôi tăng và tong đàn tăng. Các tác nhân tham gia vào chuỗi giá trị heo huyện Thống Nhất bao gồm: hộ chăn nuôi, thương lái, lò giết mô, cơ sở chế biến, bán si/ban lẻ. Trong đó, tác nhân hộ chăn nuôi, tác nhân thương lái đóng vai trò chính và là mắt xích quan trọng trong chuỗi. Tác giả đã phân tích mối liên kết giữa các tác nhân tham gia chuỗi giá trị heo tại huyện Thống Nhất và cho thấy được nhóm tham gia liên kết hoạt động hiệu quả hơn nhóm không liên kết.
Tuy nhiên qua đó cũng thấy được rằng tỷ lệ tham gia liên kết là chưa cao, còn rất đơn giản, chưa có sự vào cuộc nhiều bên, mức độ còn thấp, chủ yếu là hình thức hợp đồng miệng, mua bán tự do nên thiếu tính pháp lý, ràng buộc lỏng lẻo, do vậy hiệu quả của liên kết đem lại chưa cao. Lê Văn Lương (2008), tác giả nghiên cứu mối liên kết sản xuất - tiêu thụ rau an toàn trên địa bàn Hà Nội. Phương pháp nghiên cứu sử dụng là phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích chuỗi ngành hàng (lợi ích và chi phí), phương pháp phỏng van chuyên gia. Kết qua cho thấy hình thức của các mối liên kết giữa các tác nhân chủ yếu là mua bán tự do và hợp đồng miệng, phần lớn các tác nhân khác ngoài hợp tác xã thu gom rau an toàn cho rằng hợp đồng bằng văn bản phức tạp và không cần thiết trong sản xuất rau.
Tác giả nhận định rằng phân chia lợi ích giữa các tác nhân chưa hài hòa, tác nhân người sản xuất luôn nhận được lợi ích thấp nhất, tuy nhiên tác giả chưa xét xem việc phân chia lợi ích của từng tác nhân trong chuỗi có hợp lý hay chưa. Mỗi hình thức liên kết có mức độ phù hợp và mang tính chất pháp lý khác nhau, yêu cầu những điều kiện khác nhau nhưng đều mang lại hiệu quả thiết thực thúc đây sản xuất và tiêu thụ rau an toan. Nguyễn Thị Ngọc Mai (2010) nghiên cứu mối liên kết trong sản xuất và tiêu thụ chè nguyên liệu của Công ty chè Sông Lô đối với các tác nhân khác trong chuỗi. Sử dụng các phương pháp nghiên cứu phân tích thống kê, phân tích ma trận SWOT, phân tích lợi ích — chi phí, tác giả đã mô tả lại mối liên kết của công ty chè Sông Lô rất đa dạng từ liên kết với hộ nông dân, hộ thu gom, các cơ sở cung cấp phân bón, thuốc BVTV, tô chức tài chính cho đến các khoa học ở các viện/trường.
Trong đó công ty chú trọng nhât đên việc liên kêt với các hộ nông dân. Tuy nhiên, môi liên kêt vân còn một sô hạn chê nhât định. Tác giả đưa ra đê xuât đê nâng cao hiệu quả môi liên kết: hoàn thiện các điều khoản hợp đồng, cải thiện thời gian thanh toán, ký hợp đông với các hộ thu gom, tô chức buôi tọa đàm với các hộ nông dân và hộ thu gom đê giải quyết các mâu thuẫn, hộ nông dân cần đây mạnh áp dụng khoa học kỹ thuật, nâng cao ý thức.