PHẦN MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Liên kết giữa các nhà chính là chìa khóa giúp phát triển một nền nông nghiệp hiện đại, đảm bảo hài hòa lợi ích của các chủ thể tham gia. Trong liên kết mỗi nhà có những vị tr khác nhau. Nhà nước tạo cơ chế, hành lang pháp lý, giải quyết xung đột của các bên và trong một số trường hợp còn hỗ trợ một phần các nguồn lực cho liên kết.
Nhà khoa học nghiên cứu tạo ra các tiến bộ khoa học công nghệ giúp phát triển liên kết và làm các dịch vụ khoa học công nghệ theo yêu cầu liên kết. Nông dân và doanh nghiệp (DN) là thành phần chủ yếu nhất trong quá trình liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ-hai giai đoạn chính của quá trình kinh doanh nông nghiệp. Có thể nói không có nông dân (cùng các tổ chức của họ) và doanh nghiệp thì không thể có kinh doanh nông nghiệp. Muốn kinh doanh nông nghiệp phát triển để sản phẩm nông nghiệp tham gia được vào các chuỗi cung ứng địa phương, quốc gia và toàn cầu thì không thể thiếu sự liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp vì liên kết nông dân với doanh nghiệp trong chuỗi giá trị là con đường tất yếu, là giải pháp, động lực để phát triển nền sản xuất hàng hóa.
Quá trình liên kết đó có những đặc điểm riêng và đóng vai trò quan trọng: Góp phần đảm bảo các bên cùng có lợi; làm tăng hiệu quả trong sản xuất nông sản; góp phần nâng cao hiệu quả, vai trò quản lý nhà nước về kinh tế… Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay của Việt Nam tuy nhà nước đã cho nhiều chính sách, nhiều văn bản hướng dẫn , khuyến khích liên kết nói chung và liên kết nông dân với doanh nghiệp nói riêng vẫn còn nhiều nút thắt khiến cho việc tiêu thụ các mặt hàng nông sản đôi lúc còn bỏ ngỏ dẫn đến tình trạng bị tư thương lợi dụng thao túng giá cả thị trường, thậm chí b gãy chuỗi liên kết một cách dễ dàng. Với sự đa dạng của các loại hộ nông dân và doanh nghiệp nên trong liên kết cũng thể hiện khác nhau, sự bất cập cũng không đồng nhất vì vậy mỗi địa phương cần có những nghiên cứu cụ thể nhằm đề ra giải pháp thích hợp. Hà Nội là thành phố nhưng lại có những đặc điểm khá đặc trưng liên quan nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Với tổng dân số của Hà Nội khoảng 8,2 triệu (Tổng cục Thống kê, 2017a), thu nhập bình quân khoảng 58,5 triệu người/năm với khoảng 40% dân số có thu nhập cao hơn mức trung bình (Tổng cục Thống kê, 2017b).
Ngoài ra hàng năm còn có khoảng 22 triệu lượt du khách đến Hà Nội 1 (Sở Du lịch thành phố Hà Nội, 2017), đây là một thị trường tiềm năng song khá khó tính với yêu cầu cao hơn về chất lượng nông sản thực phẩm. Nông nghiệp của Hà Nội có ưu thế về khoảng cách thị trường nhưng lại gặp một số thách thức như yêu cầu cao của người tiêu dùng, sự cạnh tranh của hàng nhập khẩu và nông sản từ các địa phương trong nước. Điều này đòi hỏi ngành nông nghiệp Hà Nội cần phải có sự thay đổi tổ chức, sắp xếp các hoạt động sản xuất và phân phối hàng hóa nông sản để đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng, đặc biệt là kết nối các doanh nghiệp trong chuỗi nông sản – tác nhân quan trọng để đưa nông sản hàng hóa tới người tiêu dùng một cách hiệu quả nhất trong bối cảnh hiện nay của thị trường thành phố. Trên địa bàn thành phố có hơn 1.000 doanh nghiệp (DN) hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp (Hội Làm vườn Việt Nam, 2016) nhưng chủ yếu là cung cấp vật tư đầu vào theo kiểu mua bán, trao đổi trên thị trường tự do.
Điều này đã không giải quyết được thực tiễn nhu cầu tiêu thụ sản phẩm của nông dân. Đến nay, thành phố mới xây dựng được 65 chuỗi liên kết thực phẩm an toàn từ sản xuất đến tiêu thụ, chỉ chiếm 15 đến 20% lượng hàng hóa tiêu thụ trên thị trường. Để xảy ra tình trạng này là do người nông dân chưa điều tiết sản xuất phù hợp với khả năng tiêu thụ của thị trường, chưa có cầu nối vững chắc giữa người nông dân và doanh nghiệp. Các hộ dân với kiểu làm ăn mang t nh chất thời vụ, theo lối chộp giật, chưa đáp ứng được những tiêu chí của hệ thống, dẫn đến tình trạng tiêu thụ bấp bênh.
Một số liên kết trong kinh doanh nông sản giữa hộ nông dân với DN như hộ ở Quốc Oai và công ty Long Phú trong tiêu thụ chè, giữa hộ ở Cổ Bi với doanh nghiệp trong tiêu thụ chuối tiêu hồng nuôi cấy mô, giữa hộ trồng cây ăn quả giá trị cao với một số siêu thị (Viện Khoa học Phát triển nông thôn, 2014-2016), liên kết giữa Công ty sữa Quốc tế (IDP) và Công ty sữa Vinamilk với nông dân các xã Phù Đổng, Dương Hà v. song vẫn còn gặp nhiều khó khăn, không thường xuyên. Đa số các hộ nông dân sản xuất có quy mô nhỏ, hầu như tự độc lập kinh doanh. Kinh doanh nông nghiệp của Hà Nội hướng vào tiêu dùng cho thành phố với yêu cầu nông sản thực phẩm an toàn nên không thể thiếu liên kết nhưng liên kết thế nào thì đang là bài toán khó, không thành công.
Vấn đề đặt ra cấp bách cho ngành nông nghiệp của thành phố là làm như thế nào để xây dựng liên kết kinh doanh giữa những HND nhỏ và DN trên địa bàn thành phố, nhằm phát triển nông nghiệp ngoại thành bền vững và tận dụng ưu thế thị trường đô thị. 2 Đã có khá nhiều nghiên cứu về liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, cũng như về chuỗi giá trị nông sản (Hội Làm vườn Việt Nam, 2016; Viện Khoa học Phát triển nông thôn, 2017), tuy nhiên về liên kết giữa HND và DN trong bối cảnh thị trường đô thị lớn như Hà Nội thì khá thiếu vắng những nghiên cứu đánh giá sâu và chi tiết để làm cơ sở cho Sở Nông nghiệp và chính quyền có những giải pháp xây dựng liên kết giữa hai tác nhân này trong kinh doanh nông nghiệp của thành phố. Do đó, nghiên cứu về “Liên kết giữa hộ nông dân với doanh nghiệp trong kinh doanh nông nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội sẽ đóng góp cả về lý luận và thực tiễn cho công tác phát triển sản xuất nông nghiệp của thành phố. Nghiên cứu này nhằm trả lời các câu hỏi sau: Nên hiểu thế nào về liên kết giữa HND với DN trong KDNN?; Thực trạng liên kết giữa HND Hà Nội với các DN như thế nào?; Những yếu tố nào ảnh hưởng tới liên kết giữa HND Hà Nội với các DN?; Để thúc đẩy liên kết giữa HND với DN thì cần có những giải pháp nào? 1.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mục tiêu chung Trên cơ sở lý luận và thực tiễn liên kết giữa hộ nông dân với doanh nghiệp trong kinh doanh nông nghiệp tác giả đánh giá thực trạng liên kết giữa hộ nông dân với doanh nghiệp trong kinh doanh nông nghiệp, từ đó đề xuất một số giải pháp thúc đẩy liên kết giữa hộ nông dân với doanh nghiệp trong kinh doanh nông nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian tới. Mục tiêu cụ thể + Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến liên kết giữa hộ nông dân với doanh nghiệp trong kinh doanh nông nghiệp. + Đánh giá thực trạng liên kết giữa hộ nông dân với doanh nghiệp trong kinh doanh nông nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội.
+ Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết giữa hộ nông dân với doanh nghiệp trong kinh doanh nông nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội. + Đề xuất các giải pháp thúc đẩy liên kết giữa hộ nông dân với doanh nghiệp trong kinh doanh nông nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội thời gian tới. 3 3 ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 1. Đối tƣợng nghiên cứu Luận án nghiên cứu những vấn đề lý luận, thực trạng và giải pháp liên quan tới liên kết giữa hộ nông dân Hà Nội với các doanh nghiệp trong kinh doanh nông nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi không gian Đề tài nghiên cứu liên kết giữa hộ nông dân với doanh nghiệp trong các hoạt động kinh doanh nông nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội. - Phạm vi nội dung Đề tài nghiên cứu liên kết giữa hộ nông dân với doanh nghiệp trong các lĩnh vực kinh doanh nông nghiệp mà sản phẩm bắt nguồn từ sản xuất nông nghiệp của Hà Nội để cung cấp cho thị trường Hà Nội. Do hạn chế về mặt thời gian cũng như để quá trình nghiên cứu đạt hiệu quả. Nội dung nghiên cứu liên kết giữa hộ với doanh nghiệp theo quá trình kinh doanh, tập trung vào hình thức liên kết dọc và một số loại sản phẩm hàng hóa ch nh như cây ăn quả, rau, chăn nuôi lợn thịt và gà thịt.
- Phạm vi thời gian Đánh giá thực trạng liên kết giữa hộ và doanh nghiệp giai đoạn 2015- 2020. Đề xuất giải pháp cho giai đoạn 2021-2025. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI 4 Về lý luận Luận án đã góp phần hệ thống hóa, làm sáng tỏ và bổ sung một số cơ sở lý luận về liên kết trong kinh doanh nông nghiệp; Lý luận về liên kết giữa hộ nông dân và doanh nghiệp trong kinh doanh nông nghiệp; Nêu được vai trò, đặc điểm, các hình thức, nguyên tắc, các mối quan hệ của hộ nông dân với doanh nghiệp và các bên liên quan khác; Đề tài cũng đã chỉ ra các nhóm yếu tố ảnh hưởng tới liên kết giữa hộ nông dân với doanh nghiệp trong KDNN. 4 2 Về thực tiễn Luận án đã tổng kết, đánh giá, phân tích các mối liên hệ liên kết trên thực tế, cụ thể: (i) Tổng kết những kinh nghiệm liên kết trong sản xuất, tiêu thụ và 4 KDNN của các nước trên thế giới và ở một số địa phương ở Việt Nam cho thấy: Liên kết giữa hộ nông dân với doanh nghiệp khá đa dạng vì DNN có t nh đặc thù cao; Hình thức liên kết thành công chủ yếu là trực tiếp, liên kết tự nguyện sẽ bền vững và thật sự hiệu quả, nhà nước có vai trò quan trọng trong thúc đẩy liên kết, để thúc đẩy liên kết cần kết hợp cả yếu tố kinh tế và xã hội.